Tổng hợp văn bản lớp 9 - tổng hợp kiến thức ngữ văn lớp 9

 Tác phẩm văn học luôn mang đến những điều sâu sắc đối với người xem bởi tính hiện thực của cuộc sống. Để có thể nắm chắc nội dung của các tác phẩm văn học lớp 9 và chuẩn bị tốt kì thi lên lớp 10. Các bạn hãy cùng Bamboo School theo dõi ngay bài viết sau đây nhé!

Chuyện người con gái Nam Xương

Về tác giả:

Tác giả Nguyễn Dữ – có sách phiên âm là Nguyễn Tự (chưa rõ năm sinh, năm mất), là một danh sĩ sống vào thế kỉ XVI, thời kỳ triều đình nhà Lê đã bắt đầu khủng hoảng, người huyện Trường Tân, nay là huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương.

Bạn đang xem: Tổng hợp văn bản lớp 9

Tóm tắt văn bản:

Truyện kể về Vũ Thị Thiết, một người phụ nữ xinh đẹp, có nét đẹp lộng lẫy được gả cho chàng trai nhà giàu Trương Sinh. Hạnh phúc chẳng bao lâu, Trương Sinh phải đi tòng quân, bỏ lại mẹ già, vợ trẻ. Ít lâu sau, Vũ Nương sinh được một bé trai kháu khỉnh, đặt tên là Đán. Vũ Nương hết lòng chăm sóc mẹ chồng như chính mẹ đẻ của mình. Người mẹ vì thương nhớ Trương Sinh nên sinh ra bị bệnh và qua đời. Vũ Nương một mình tần tảo nuôi con thơ dại. Sau trận đánh, Trương Sinh trở về, nghe lời con thơ và nghi ngờ rằng vợ đã ở nhà dan díu với người đàn ông khác. Vũ Nương bị oan, mặc cho hết sức hết lời giải thích nhưng Trương Sinh không tin. Quá uất ức, chị đã gieo mình xuống sông Hoàng Giang tự tử chứng minh cho lòng trong sạch của mình.Thương Vũ Nương bị oan, được Linh Phi cứu giúp, đưa nàng trở về hang rùa dưới thủy cung. Một đêm, Trương Sinh và con trai đang ngồi bên ngọn đèn, người con trai chỉ vào cái bóng trên vách và nói rằng đó là người “bố” thường đến vào ban đêm chính là cái bóng này. Ngay lúc này anh nhận ra rằng vợ mình đã bị oan, anh hối lỗi nhưng cũng quá muộn.

*

Hoàng Lê Nhất Thống Trí

Về tác giả:

Tác phẩm Hoàng Lê Nhất Thống Chí do một nhóm tác giả được gọi là Ngô Gia Văn Phái thuộc dòng họ Ngô Thì sáng tác.

Tóm tắt văn bản:

Lê Chiêu Thống vì muốn đòi lại ngôi vua đã sang cầu viện trợ từ nhà Thanh. Nhà Thanh nắm được cơ hội này đã lấy cớ khôi phục nhà Lê và đem quan sang xâm lược nước ta. Tôn Sĩ Nghị kéo quân vào Thăng Long như vào chỗ không người, rất kiêu căng và ngạo mạng. Lê Chiêu Thống phải đến dinh của Nghị xin xuất quân bình định phương Nam nhưng Nghị không chịu và hẹn đến mùng 6 Tết.

Khi nghe tin quân Thanh kéo vào thành Thăng Long, Nguyễn Huệ vô cùng phẫn nộ, định cầm quân đi đánh chúng ngay. Tuy nhiên các tướng lĩnh lại ngăn cản vì cho rằng đây chưa phải thời cơ thích hợp và mong rằng Nguyễn Huệ hãy lên ngôi tiếp quản vương quyền và ổn định lòng dân. 25 tháng chạp năm 1788, Nguyễn Huệ lập đàn trên núi Bân, tế cáo trời đất và lên ngôi hoàng đế lấy hiệu Quang Trung, rồi bắt đầu kéo quân ra Bắc. Quang Trung đến Nghệ An và chiêu dụ thêm quân sĩ từ đó gia tăng binh lực. Sau đó đến Tam Hiệp, tha tội quân Sở và Lân và rút quân về.

Tiếp đó, sửa lễ và cúng tế chia 5 đạo quân cùng tiến ra Bắc. Với chiến lược thần tốc, quân Tây Sơn tiến công như vũ bão. Chiếm được Thăng Long, quân Thanh đại bại. Nghe được tin cấp báo Tôn Sĩ Nghị đang say mê trong yến tiệc sợ mất mật chạy về hướng Bắc nhưng vẫn bị vua Lê truy đuổi.

*

Phong cách Hồ Chí Minh

Về tác giả:

Tác phẩm đặc sắc “Phong cách Hồ Chí Minh” do tác giả Lê Anh Trà (1927 – 1999) sáng tác. Ông được biết đến là một quân sư sau đó chuyển hướng sang viết báo chuyên nghiên cứu và viết về vị chủ tịch Hồ Chí Minh.

Tóm tắt văn bản:

Trong cuộc đời của mình, chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp xúc với rất nhiều nước từ đó tiếp cận được nhiều nền văn hoá và thành thạo nhiều thứ tiếng như: Pháp, Hoa, Nga, Anh,…Nhưng những nên văn hoá ấy không thể ảnh hưởng đến nhân cách con người đậm chất Việt Nam. Từ công việc đến cuộc sống hằng ngày, nếp sống của Người luôn giản dị, điềm đạm. Như các vị danh nho thời ấy, Người hoàn toàn không tự thần thánh hoá mình mà luôn luôn tìm hiểu, học tập để có thể đem đến vinh quang cho nước nhà. Lối sống thanh cao của Người là tấm gương đáng để noi theo.

*

Truyện Kiều

Về tác giả:

Truyện Kiều là một trong những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Du. Nguyễn Du (Tố Như) 1766 – 1820 là một nhà thơ, nhà văn lớn ở thời lê, ông được kính trọng được người người tôn xưng là “Đại thi hào dân tộc” và được UNESCO công nhận là “Danh nhân văn hoá thế giới”.

Tóm tắt văn bản:

Gia đình Vương Viên Ngoại có 3 người con trong đó, Thuý Kiều là con gái đầu lòng có tài sắc vẹn toàn. Thuý Vân là cô em tài sắc cũng không kém cạnh người chị và một người con trai Vương Quan khôi ngô, tuấn tú. Nhân dịp tiết Thanh Minh, ba chị em rủ nhau cùng đi chơi xuân và tình cờ gặp Kim Trọng. Vừa hay Kim Trọng dọn đến trọ ngay gần nhà Thuý Kiều nhờ đó mà hai người lại vô tình chạm mặt nhau. Sau khi qua lại được một thời gian cả hai thổ lộ tình cảm và thề nguyện ước cùng nhau.

Không lâu sau đó, Kim Trọng phải về tang chú, cùng lúc ấy gia đình Thuý Kiều bị vu oan dẫn đến cha của Thuý kiều là Vương Ông và em trai Vương Quan bị bắt giam. Kiều phải bán mình để chuộc cha và em, sau đó nhờ Thuý Vân thay mình nối duyên cùng Kim Trọng. Sau khi bán mình cho Mã Giám Sinh, Kiều bị lừa bán vào thanh lâu cho Tú Bà. Kiều bị đánh đạp dã man, không thể chịu nổi nữa Kiều định tự sát nhưng bị Tú Bà ngăn cản. Mụ ta dùng lời ngon ngọt dụ dỗ Kiều ra lầu Ngưng Bích nhưng lại gặp chúng tên Sở Khanh đánh đập và bắt buộc nàng tiếp khách. Từ ấy, Kiều sống trong nỗi ô nhục trốn lầu xanh.

Kiều được Thúc Sinh, một khách làng chơi hào phóng chuộc về làm vợ lẽ. Được hơn một năm, Kiều bị vợ cả của Thúc Sinh là Hoạn Thư đánh ghen thảm khốc rồi bắt về Vô Tích làm đứa ở, sau cho ra Tàng kinh các chép kinh. Kiều bỏ trốn khỏi nhà Hoạn Thư đến nương nhờ sư Giác Duyên. Bạc Bà, một phật tử thường lui tới chùa sư Giác Duyên, lại là đồng môn với Tú Bà, đã âm mưu đẩy Thúy Kiều vào lầu xanh lần thứ hai.

Kiều may mắn gặp Từ Hải – người anh hùng tài trí phi thường chuộc cưới làm vợ rồi giúp nàng báo ân báo oán. Hồ Tôn Hiến lợi dụng Thúy Kiều khuyên Từ Hải quy hàng. Từ Hải trúng kế Hồ Tôn Hiến phải chết đứng giữa trận tiền. Còn Kiều bị Hồ Tôn Hiến bắt hầu rượu và làm nhục, sau đó ép gả nàng cho tên thổ quan. Quá ô nhục, trên đường đi, Kiều nhảy xuống sông Tiền Đường tự vẫn nhưng được vãi Giác Duyên cứu đem về nương nhờ nơi cửa Phật.

Nói về Kim Trọng, sau nửa năm về Liêu Dương hộ tang cho chú, trở lại mới hay tin Kiều đã bán mình chuộc cha, chàng đau đớn. Theo lời dặn của Kiều, Vương ông se duyên chàng với Thuý Vân. Sau khi đỗ đạt và làm quan, Kim Trọng lặn lội tìm Kiều, lần hỏi tin tức và gặp sư Giác Duyên biết nàng còn sống. Kim Trọng quá mừng rỡ, không quản ngại đường xa, ngay lập tức đến đón Thúy Kiều. Thúy Kiều được đoàn tụ với gia đình sau mười lăm năm lưu lạc khắp nhân gian, chịu không biết bao nhiêu khổ nhục. Kim Trọng ngỏ ý kết lại tình xưa với Thúy Kiều nhưng nàng đã từ chối. Nàng chấp nhận sống trong nhà và chỉ xem Kim Trọng như bạn bè.

*

Lục Vân Tiên

Về tác giả:

Nguyễn Đình Chiểu (Hối Trai) 1822 – 1888 là một nhà thơ của Nam kỳ vào nửa cuối thế kỷ 18. Lục Vân Tiên là một trong các tác phẩm nổi tiếng của ông.

Tóm tắt văn bản:

Lục Vân Tiên là một chàng trai khôi ngô tuấn tú, có tài có đức, văn võ song toàn, con một gia đình thường dân ở quận Đông Thành. Trên đường lên kinh đô dự thi, chàng đánh tan bọn cướp cứu Kiều Nguyệt Nga. Cảm công ơn ấy, Kiều Nguyệt Nga xin đền ơn nhưng chàng không nhận, về nhà, Kiều Nguyệt Nga vẽ hình Lục Vân Tiên và tự cho rằng mình đã là vợ của chàng..

Tiếp tục hành trình, Lục Vân Tiên kết bạn với Hớn Minh, người bạn khí khái, trọng nghĩa khinh tài. Trên đường ứng thí, chàng ghé thăm gia đình Võ Công – người hứa gả con gái cho chàng. Chàng có thêm bạn đồng hành là Vương Tử Trực. Đến kinh đô, chàng gặp Trịnh Hâm và Bùi Kiệm. Bọn chúng là những người xấu, đố kị tài năng với Lục Vân Tiên. Ngay lúc sắp vào trường thi, Lục Vân Tiên hay tin mẹ mất, chàng liền bỏ kỳ thi về quê chịu tang mẹ. Đường xa, lại thương mẹ chàng khóc nhiều và bị mù mắt. Không những thế, Trịnh Hâm vì đố kỵ tài năng đã hãm hại lừa đẩy chàng xuống sông trong một đêm mưa gió bão bùng. Chàng được giao long đưa vào bờ, được gia đình ông Ngư cứu mạng.

Sau khi về hộ tang mẹ, Lục Vân Tiên sang nhà Võ Công nhắc lại lời hứa năm xưa. Cha con Võ Công không những bội ước mà còn nhẫn tâm đem bỏ vào hang núi Thương Tòng cho hổ dữ ăn thịt. Lục Vân Tiên được Du Thần và ông Tiều cứu, chàng may mắn gặp lại Hớn Minh. Hớn Minh đem Lục Vân Tiên về ẩn náu nơi am vắng. Khoa thi năm ấy Vương Tử Trực đỗ thủ khoa, trở lại nhà Võ Công hỏi tin tức Lục Vân Tiên. Võ Công ngỏ ý muốn gả con gái, bị Tử Trực cự tuyệt và mắng thẳng vào mặt. Võ Công quá hổ thẹn, thổ huyết mà chết.

Lại nói về Kiều Nguyệt Nga. Nghe tin Lục Vân Tiên đã chết, Kiều Nguyệt Nga thề sẽ thủ tiết suốt đời. Tên thái sư ép nàng lấy con trai hắn nhưng không được. Đem lòng thù oán, hắn tâu vua bắt nàng cống cho giặc ô Qua. Trên đường đi, nàng gieo mình xuống sông tự tử. Phật Bà Quan Âm đưa nàng dạt vào vườn hoa nhà họ Bùi. Bùi Công nhận nàng làm con nuôi nhưng Bùi Kiệm lại đòi lấy nàng làm vợ. Kiều Nguyệt Nga phải bỏ trốn nương nhờ nhà bà lão dệt vải trong rừng.

Lục Vân Tiên ở với Hớn Minh được thuốc tiên mắt sáng. kỳ thi năm ấy, chàng đi thi, đỗ trạng nguyên và được vua cử đi dẹp giặc Ô Qua. Đánh tan giặc, Lục Vân Tiên một mình lạc trong rừng, đến nhà bà lão hỏi thăm đường, chàng gặp lại Kiều Nguyệt Nga. Về triều, Lục Vân Tiên tâu hết sự tình, kẻ gian bị trừng trị, người nhân nghĩa được đền bù xứng đáng, Lục Vân Tiên và Kiều Nguyệt Nga nên vợ nên chồng, sống cuộc đời hạnh phúc, viên mãn.

*

Làng

Về tác giả:

Làng do Kim Lân sáng tác, ông vốn gắn gắn bó và am hiểu sâu sắc về chi tiết sinh hoạt của những người nông thôn. Ông luôn sử dụng các từ ngữ mộc mạc, trong sáng để viết về làng quê Việt Nam.

Tóm tắt văn bản:

Truyện kể về tình yêu làng, yêu nước, một lòng đi theo cách mạng của người nông dân Việt Nam thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp cứu nước. Nhân vật chính là ông Hai, một người nông dân ở làng Chợ Dầu, có tình yêu sâu đậm, gắn bó tha thiết với làng quê. Vì hoàn cảnh gia đình, ông phải di cư lên thị trấn Thắng nhưng luôn khổ tâm, day dứt vì nhớ làng, nhớ anh em, nhớ đồng chí.

Khi hay tin làng theo giặc, ông vô cùng đau khổ, tủi nhục và xấu hổ. Một cuộc đấu tranh nội tâm kịch liệt diễn ra trong ông. Ông yêu làng tha thiết nhưng giờ làng theo Tây thì ông thù. Ông đứng về phía kháng chiến, hết lòng ủng hộ cụ Hồ.

Khi ông chủ tịch làng lên cải chính làng ông không theo Tây, làng ông vẫn kháng chiến, ông mừng vui và cảm thấy như mình được minh oan: làng ông, nhà ông bị Tây đốt. ông vui sướng trong cái mất mát đó. Tình yêu làng của ông Hai đã được nâng cao thành lòng yêu nước nồng nàn, sâu thẳm.

*

Lặng lẽ Sa pa

Về tác giả:

Lặng lẽ Sa Pa là một trong những tác phẩm tiêu biểu nhất của nhà văn Nguyễn Thành Long. Bài văn viết về những con người thầm lặng ngày đêm cống hiến cho quê hương, đất nước. Tác phẩm được sáng tác năm 1970 trong chuyến đi thực tế của tác giả.

Tóm tắt văn bản:

Truyện kể về cuộc sống của anh thanh niên làm công tác khí tượng thuỷ văn kiêm vật lý địa cầu trên đỉnh cao Yên Sơn 2600m. Cuộc gặp gỡ bất ngờ và ngắn ngủi giữa anh thanh niên và ông hoạ sĩ sắp về hưu, bác lái xe và cô kĩ sư mới ra trường thật vui vẻ. Anh thanh niên kể về công việc của mình và những người lao động khác lặng lẽ cống hiến cho đất nước.

Qua cuộc gặp gỡ ngắn ngủi, cô kỹ sư trẻ và ông họa sĩ thầm cảm phục tinh thần dám sống vì đất nước và tinh thần dũng cảm của chàng trai trẻ. Ông hoạ sĩ cảm nhận được vẻ đẹp trong bức chân dung anh thanh niên làm việc giữa bốn bề chỉ có mây mù và cây cỏ không có một bóng người.

Tất cả mọi người đến Sa Pa đều cảm nhận được Sa Pa không chỉ đẹp ở thiên nhiên yên tĩnh lặng lẽ, mà ở đó còn có những con người lao động âm thầm lặng lẽ cống hiến tuổi thanh xuân cho Tổ quốc. Cuộc chia tay đầy lưu luyến đã để lại trong lòng mọi người về con người lao động mới có lí tưởng sống cao đẹp.

*

Chiếc lược ngà

Về tác giả:

Nguyễn Quang Sáng (1932 – 2014) là nhà văn Việt Nam, từng đoạt Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật đợt II năm 2000. Ông được biết nhiều với vai trò tác giả và biên kịch của hai tác phẩm nổi tiếng là truyện ngắn Chiếc lược ngà và phim điện ảnh Cánh đồng hoang

Tóm tắt văn bản:

Ông Sáu, một cán bộ kháng chiến, xa nhà đi kháng chiến lúc bé Thu, con gái đầu lòng của ông chưa đầy một tuổi. Mãi đến khi con gái lên tám tuổi, ông mới có dịp về thăm nhà, thăm con. Bé Thu không nhận ra cha vì vết sẹo trên mặt làm ba em không giống với người cha trong bức ảnh mà em biết. Em đối xử với ba như người xa lạ.

Ông Sáu rất yêu thương con, cố gắng thuyết phục bé Thu gọi “ba” nhưng nó một mực không nghe. Ông càng tiếp cận, nó càng trở nên bướng bỉnh, cự tuyệt ông quyết liệt. Điều ấy khiến ông vô cùng đau khổ. Nhờ ngoại giải thích, Thu mới hiểu rõ. Đến khi Thu nhận ra cha, tình cha con thức dậy mãnh liệt trong em thì cũng là lúc ông Sáu phải lên đường trở về khu căn cứ. Cuộc chia tay trên bến sông hôm ấy đẫm đầy nước mắt.

Ở khu căn cứ, ông Sáu dồn hết tình cảm yêu quý, nhớ thương đứa con vào việc làm một chiếc lược bằng ngà voi để tặng con. Trong một trận càn, ông Sáu hi sinh. Trước lúc ra đi mãi mãi, ông đã kịp trao cây lược cho bác Ba, nhờ bạn chuyển cho con gái.

*

Cố hương

Về tác giả:

Tóm tắt văn bản:

Truyện kể lại chuyến về quê lần cuối cùng của nhân vật người kể chuyện (tôi) để dọn nhà đi nơi khác làm ăn sinh sống. Nhân vật tôi đau xót nhận ra những thay đổi ghê gớm của làng quê, đặc biệt là sự tàn tạ, đần độn của Nhuận Thổ, người bạn thân thiết của “tôi” thời thơ ấu. Từ đó, người kể chuyện đã lật xới lên những vấn đề bức xúc của xã hội Trung Hoa trì trệ lúc bấy giờ. Từ đó, ông chỉ cho mọi người thấy xã hội phân chia giai cấp là do con người tạo ra. Để không còn thảm cảnh ấy nữa nhất thiết phải xây dựng một xã hội mới, trong đó con người với con người là bình đẳng. Khi cùng gia đình tạm biệt làng quê cũ, nhân vật tôi hi vọng mọi người sẽ có một tương lai sáng sủa hơn.

*

Những đứa trẻ

Về tác giả:

Thạch Lam sinh ra ở huyện Cầm Giàng, Hải Dương, với tính cách điềm đạm và nhạy cảm với những vấn đề của cuộc sống, ông luôn trăn trở, xót xa cho những số phận nghèo đói, khó khăn của người dân lao động. Tác phẩm Hai Đứa Trẻ, nhằm thể hiện khát vọng của ông về một cuộc sống tươi sáng, người dân không phải chịu cuộc sống khổ cực, vất vả của cuộc sống.

Tóm tắt văn bản:

Gần một tuần trôi qua ba đứa trẻ hàng xóm lại ra sân chơi và rủ Aliosa chơi cùng. Trong cuộc trò chuyện với ba anh em con nhà ông đại tá Ốp- xi- an- ni- cốp, Aliosa có hỏi mẹ chúng, chúng buồn vì mẹ của chúng đã mất còn bố chúng lấy một người mẹ khác. Để an ủi ba đứa trẻ, Aliosa đã kể cho chúng nghe những câu chuyện cổ tích mà bà câu hay kể. Tuy nhiên bố của ba đứa trẻ xuất hiện và cấm đoán Aliosa không được chơi với ba đứa trẻ nữa. Bất chấp sự ngăn cấm, những đứa trẻ vẫn tìm cách chơi với nhau, an ủi nhau bằng cách kể cho nhau nghe những câu chuyện vui buồn.

*

Bến quê

Về tác giả:

Nguyễn Minh Châu (1930 – 1989) quê ở làng Thơi, xã Quỳnh Hải (nay là Sơn Hải), huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An. Bến quê là truyện ngắn in trong tập truyện cùng tên của Nguyễn Minh Châu được viết vào năm 1985.

Tóm tắt văn bản:

Nhĩ – nhân vật chính của truyện – từng đi khắp mọi nơi trên trái đất, về cuối đời bị cột chặt vào giường bệnh bởi một căn bệnh hiểm nghèo, đến nỗi không thể tự mình dịch chuyển lấy vài mươi phân trên chiếc giường hẹp kê bên cửa sổ. Nhưng cũng chính vào thời điểm ấy, Nhĩ đã phát hiện ra vùng đất bên kia sông, nơi bến quê quen thuộc, một vẻ đẹp bình dị mà hết sức quyến rũ. Cũng như đến lúc nằm liệt giường, nhận sự săn sóc đến từng miếng ăn, ngụm nước của người vợ, Nhĩ mới cảm nhận hết được nỗi vất vả, sự tần tảo, tình yêu và đức hi sinh thầm lặng của người vợ.

Nhĩ vô cùng khao khát được một lần đặt chân lên bờ bãi bên kia sông, cái miền đất thật gần gũi nhưng đã trở nên rất xa vời đối với anh. Và nhân vật đã chiêm nghiệm được cái quy luật đầy vẻ nghịch lý của đời người “con người ta trên đường đời thật khó tránh được những cái điều vòng vèo hoặc chùng chình” họa chăng chỉ có anh đã từng in gót chân trên khắp mọi chân trời xa lạ mới nhìn thấy hết sự giàu có lẫn mọi vẻ đẹp của một bãi bồi sông Hồng ngay bờ bên kia, trong những nét tiêu sơ và cái điều riêng anh khám phá thấy giống như một niềm mê say pha lẫn với nỗi ân hận, đau đớn.

*

Những ngôi sao xa xôi

Về tác giả:

Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê ã khắc họa rõ nét tâm hồn trong sáng, mộng mơ cùng tinh thần lạc quan dũng cảm giàu nghị lực của những cô gái thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn.

Tóm tắt văn bản:

Truyện ngắn “Những ngôi sao xa xôi” kể về cuộc sống và chiến đấu của ba cô thanh niên xung phong – tổ trinh sát mặt đường – gồm Phương Định, Nho và chị Thao. Họ sống trong một cái hang, trên cao điểm tại một vùng trọng điểm ở tuyến đường Trường Sơn những năm chống Mỹ. Công việc của họ là quan sát máy bay địch ném bom, đo khối lượng đất đá để san lấp hố bom do địch gây ra, đánh dấu những quả bom chưa nổ và phá bom.

Công việc nguy hiểm, luôn phải đối mặt với cái chết, nhưng cuộc sống của họ vẫn không mất đi niềm vui hồn nhiên của tuổi trẻ, những giây phút thảnh thơi, thơ mộng. Họ rất gắn bó, yêu thương nhau dù mỗi người một cá tính.

Phương Định là nhân vật được khắc họa nổi bậc nhất. Cô là cô gái Hà nội xinh đẹp, luôn nhận thức rõ về bản thân. Nơi chiến trường đầy thử thách, ý chí chiến đấu, lòng dũng cảm, tình yêu tổ quốc của phương Định không ngừng được nuôi dưỡng, tăng cường, khởi sáng.

Trong một lần phá bom, Nho bị thương, hai người đồng đội hết lòng lo lắng và chăm sóc cho Nho. Một cơn mưa đá vụt đến và vụt đi đã gợi trong lòng Phương Định bao hoài niệm, khát khao.

*

Bố của Xi-mông

Về tác giả:

Guy đơ Mô-pa-xăng (1850 – 1893). Ông là một nhà văn người Pháp. Cuộc đời ngắn ngủi chỉ hơn bốn mươi năm nhưng ông đã để lại số lượng tác phẩm đồ sộ trong đó có tác phẩm Bố của Xi Mông

Tóm tắt văn bản:

Truyện Bố của Xi-mông Gồm các nội dung như sau, phần đầu kể về nỗi tuyệt vọng khi bị trêu chọc của nhân vật Xi-mông. Cậu bé đã từng có ý định sẽ đi tự tử vì những lời chế giễu quá cay độc của đám bạn cùng trang lứa. Ở phần tiếp theo kể về phân cảnh Xi-mông gặp được người cha tương lai của mình với cái tên là Phi – líp. Bác Phi-líp gặp Xi-mông an ủi, động viên em. Những lời nói đó đã vô tình in vào tâm thức của xi mông khiến cậu bé nghĩ rằng mình phải sống tốt hơn và suy nghĩ cho mình nhiều hơn, bác đã khuyên cậu bé hãy sống vì bản thân mình chứ đừng sống vì người khác, đó là điều hết sức dại dột.

Phần tiếp theo bác Phi-líp đưa Xi-mông về nhà và sau đó bác nhận làm bố của em. Xi mông đã rất vui mừng cậu bỗng dưng có một người cha mà trước đây mình chưa hề có. Sau cùng, Xi-mông vui vẻ nói mình đã có bố là ông Phi-líp.

*

Con chó Bấc

Về tác giả:

Con chó Bấc là đoạn trích trong truyện ngắn rất nổi tiếngcủa nhà văn Mĩ Giắc Lân – đơn. Giắc Lân – đơn (1876 – 1916) là nhà văn Mĩ. Ông trải qua thời thanh niên vất vả, làm nhiều nghề để kiếm ăn và sớm tiếp cận tư tưởng của chủ nghĩa xã hội.

Tóm tắt văn bản:

Tác phẩm kể về con chó Bấc – đây là loài chó duy nhất được đưa lên vùng bắc cực sinh sống với mục đích làm xe kéo trượt tuyết cho những thợ đào vàng nơi đây. Nó tốt hay xấu, được ăn no hay bỏ đói đều phụ thuộc vào tay người chủ. Trước đây Bấc đã từng qua tay của rất nhiều thợ đào vàng độc ác, chúng hành hạ đối xử bất công với những chú chó bấc của họ. Duy nhất mỗi Thooc – tơn – một người được biết đến là rất yêu quý những giống động vật, ông không coi những con chó bấc là phương tiện kiếm sống mà coi nó như những người thân trong gia đình. Từ đó, chú chó Bấc đã được cảm hóa. Sau khi Thooc – tơn qua đời chú chó quyết định rời xa cuộc sống thực tại để đi theo tiếng gọi của thiên nhiên hoang dã.

*

Bắc Sơn

Về tác giả:

Vở kịch Bắc Sơn được Nguyễn Huy Tưởng sáng tác và đưa lên sân khấu vào đầu năm 1946 trong không khí sôi sục của những năm đầu cách mạng.

Tóm tắt văn bản:

Bối cảnh vùng nông thôn Vũ Lăng bắt đầu bùng nổ phong trào khởi nghĩa trong quần chúng, nhân dân hưởng ứng mít tinh và ủng hộ cách mạng, nhiều quan lại và lính Tây bị bắt giết. Gia đình cụ Phương có cậu con trai tên Sáng cũng là nhân dân ưu tú nhiệt liệt tham gia trong khi đó, bà cụ Phương, con gái Thơm và chàng rể Ngọc lại thờ ơ, sợ hãi. Sau đó, trung ương cử giáo Thái về lãnh đạo và uốn nắn tư tưởng, định hướng phong trào cho người dân ở Vũ Lăng. Khi Ngọc – tên Việt gian sừng sỏ bị bắt và đưa ra tử hình, cụ Phương xin cho hắn được toàn mạng. Cuối cùng, chính hắn là kẻ dẫn giặc về đàn áp khởi nghĩa, bắn giết đồng bào và bắn cả bố vợ mình.

Ngọc sau vụ đó được thưởng rất nhiều tiền, tiếp tục làm tay sai cho giặc dẫn Tây về tìm bắt anh Thái và Cửu – một nông dân người Tày làm cán bộ Cách mạng. Khi hắn dẫn theo tùy tùng đi truy đuổi, cô Thơm đã giấu Thái và Cửu vào trong buồng nhà và cứu thoát họ, cô chính thức giác ngộ cách mạng. Biết được âm mưu đánh úp của chồng và đồng bọn, Thơm băng qua rừng giữa đêm khuya tới căn cứ để tiếp tế và báo tin. Quay về gặp Ngọc, cô bị y bắn trọng thương, y cũng trúng đạn mà chết. Cuộc càn quét của giặc thất bại, Thái và Cửu đưa Thơm về cứu chữa.

Đồng chí

Về tác giả:

Bài thơ được sáng tác năm 1948 khi Chính Hữu cùng với đồng đội tham gia chiến dịch Việt Bắc (thu đông 1947) đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn của thực dân Pháp. Đây cũng là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất viết về người lính trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Tóm tắt văn bản:

Bài thơ Đồng chí kể về cuộc sống và chiến đấu của những người lính cụ Hồ thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp đầy gian khổ. Họ xuất thân tù những miền quê nghèo khó, rời bỏ làng quê, gia đình để đến với cách mạng, đến với cuộc kháng chiến chống giặc cứu nước. Cuộc sống và chiến đấu nơi rừng núi của người lính vô cùng thiếu thốn, gian khổ và hiểm nguy. Thế nhưng, những trở ngại ấy không làm họ sờn lòng. Họ chia sẻ cho nhau những vật chất đơn sơ, cùng chăm sóc nhau khi ốm đau bệnh tật, cùng chiến đấu bên cạnh nhau. Không những thế, họ còn có những giây phút mơ mộng, hướng về cái đẹp trong hoàn cảnh khắc nghiệt nhất. Chính tình đồng chí ấm áp, thiêng liêng tiếp thêm sức mạnh, giúp họ vượt qua nghịch cảnh, chiến thắng kẻ thù.

*

Mùa xuân nho nhỏ

Về tác giả:

Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải sáng tác vào tháng 11/1980 trong hoàn cảnh đất nước đang hồi sinh nhưng cũng vào lúc này nhà thơ mắc bệnh hiểm nghèo, ông sáng tác này ngay trên chính giường bệnh của mình.

Tóm tắt văn bản:

Nội dung Bài thơ Mùa xuân nho nhỏ nói về vẻ đẹp mùa xuân với những hình ảnh, màu sắc hài hòa và sinh động. Cảm xúc của tác giả trước cảnh xuân của đất nước Niềm tin của tác giả vào tương lai rạng ngời của dân tộc Việt Nam. Âm thanh mùa xuân vang lên từ sự vất vả khó khăn, Đất nước ta luôn đứng vững trên mọi bầu trời. Lời ước nguyện khiêm nhường, âm thầm và lặng lẽ của tác giả muốn tô điểm và cống hiến cho cuộc đời.

*

Bàn về đọc sách

Về tác giả:

Bài luận này của Chu Quang Tiềm được trích trong “Danh nhân Trung Quốc bàn về niềm vui nỗi buồn của việc đọc sách” 1995). Chu Quang Tiềm (1897-1986) ông là nhà mĩ học và lí luận học nổi tiếng của Trung Quốc, là danh nhân lớn, học vấn cao, là tác giả của nhiều bài chính luận nổi tiếng.

Tóm tắt văn bản:

Bài “Bàn về đọc sách” nói về tầm quan trọng của việc đọc sách đối với việc nâng cao tri thức và tạo dựng giá trị con người. Đồng thời bài viết còn chỉ ra những cách đọc sách đúng, hiệu quả để khai thác tối đa ý nghĩa của những cuốn sách cho bạn đọc nhiều thế hệ.

*

Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới

Về tác giả:

Vũ Khoan (sinh năm 1937) được biết đến là một nhà chính trị và ngoại giao xuất sắc của Việt Nam Với rất nhiều những đóng góp của mình cho nền ngoại giao quốc gia. Bài viết này đăng trên tạp chí Tia sáng năm 2001, in trong tập Một góc nhìn của trí thức, NXB Trẻ, Thành phố HCM, 2002.

Tóm tắt văn bản:

Bài viết “Chuẩn bị hành trang vào thế kỉ mới” là một bài viết mang ý nghĩa thời sự lâu dài đối với con người, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam ở mọi giai đoạn lịch sử. Bài viết đề cập một cách thẳng thắn và đầy thuyết phục về những điểm mạnh, điểm yếu của con người Việt Nam. Từ cơ sở đó, tác giả Vũ Khoan nhấn mạnh vai trò quan trọng của việc chuẩn bị bản thân con người trước thềm đổi mới, hội nhập cùng với đó là vai trò của thế hệ trẻ – những người chủ thực sự của đất nước trong thế kỉ mới.

*

Rô-bin-xơn ngoài đảo hoang

Về tác giả:

Đi-phô (1660 – 1731) là nhà văn Anh trong thế kỉ XVIII. Ông nổi tiếng với cuốn tiểu thuyết “Rô -bin – xơn Cru – xô”. Ông là một nhà văn tiến bộ, được đánh giá là mội nhà văn đi đầu trong họat động báo chí của nước Anh. Rô – bin – xơn ngoài đảo là tác phẩm khá nổi tiếng của ông.

Tóm tắt văn bản:

Rô-bin-xơn là một thanh niên cường tráng, dũng cảm ưa mạo hiểm, khao khát đi tới những miền đất lạ, thích vượt trùng dương. Chàng đi xuống tàu tại thương cảng Hơn, theo bạn đi Luân Đôn. Tàu bị đắm tại Yác-mao. Chẳng nhụt chí trước tai họa, chẳng mềm lòng trước lời kêu khóc của mẹ cha, Rô-bin-xơn làm quen với một thuyền trưởng tàu buôn đi sang Ghi-nê: Chuyến đầu tốt đẹp, chuyến thứ hai gặp cướp biển, bị bắt làm nô lệ ở Xa-lê. Hai năm sau trốn thoát, lưu lạc sang Bra-xin lập đồn điền. Có một tí vốn, 4 năm sau lại cùng bạn xuống tàu buôn đi Ghi-nê. Tàu gặp bão, bị đắm. Hầu hết đều chết, chỉ còn Rô-bin-xơn may mắn sống sót. Tàu đắm dạt vào một nơi gần đảo hoang. Chàng tìm cách lên đảo, làm lán trại chuyên chở mọi thứ còn lại trên tàu đắm, từ khẩu súng, viên đạn đến lương thực lên đảo. Chàng săn bắn, kiếm ăn, trồng trọt, nuôi dê, làm đủ nghề như đan lát, nặn gốm …. để duy trì cuộc sống đơn độc trên đảo hoang.

*

Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh

Về tác giả:

Phạm Đình Hổ (1768-1839) để lại nhiều công trình biên soạn, khảo cứu có giá trí thuộc đủ các lĩnh vực: văn học, triết học, lịch sử, địa lí,…tất cả đều bằng chữ Hán. Văn bản Chuyện cũ trong phủ chúa Trịnh được trích từ tác phẩm Vũ trung tùy bút – một tác phẩm đặc sắc của Phạm Đình Hổ gồm có 88 mẩu chuyện nhỏ.

Xem thêm: Nhôm Phân Tán - Phụ Gia Phân Tán Và Thấm Ướt Bột Màu

Tóm tắt văn bản:

Chúa Trịnh (Trịnh Sâm) đánh bại các cuộc khởi nghĩa nông dân, nam chinh. Sau này trở nên sa đọa, vị vua có thói ăn chơi, thích xây dựng các đền đài cung điện để thỏa mãn sở thích của mình. Mỗi lần đi chơi, Chúa đều mang theo nhiều binh lính, người hầu hạ. Các công trình của Trịnh Sâm xây dựng đều tốn tiền bạc của nhân dân.

Chúa Trịnh Sâm có thú chơi thích sưu tầm của ngon vật lạ trên thế gian mang về làm của riêng. Bọn quan lại xấu xa ban ngày thì đi điều tra của ngon vật lạ của dân chúng, ban đêm cướp cây cảnh, chậu hoa quý. Ai phản kháng bọn chúng tố giác giấu vật biếu vua. Dân chúng buộc phải bỏ tiền cho chúng hoặc đập phá cây cảnh, chậu hoa nếu không muốn rước họa vào thân.

*

Tôi và chúng ta

Về tác giả:

Lưu Quang Vũ (1948- 1988) phong cách sáng tác không chỉ bay bổng, tài hoa mà còn giàu cảm xúc, trăn trở, khát khao. Ông còn là tác giả của nhiều truyện ngắn mang đậm phong cách riêng, kịch đi sâu vào những vấn đề nổi cộm của đời sống. Tôi và chúng ta (1984) gồm 9 cảnh phản ánh cuộc đấu tranh gay gắt cũ – mới để phát triển.

Tóm tắt văn bản:

Vở kịch Tôi và chúng ta là câu chuyện về cuộc đấu tranh gay gắt giữa những con người mạnh dạn đổi mới, dám nghĩ dám làm, vì lợi ích của mọi người như Hoàng Việt và Thanh với những con người bảo thủ, lạc hậu, khư khư giữ lấy các quy tắt đã xơ cứng lạc hậu, tiêu biểu là Nguyễn Chính, Trương, Trần Khắc. Từ đó, tác giả khẳng định rằng không có thứ chủ nghĩa tập thể chung chung, không thể giữ mãi những thứ đã cũ mòn, cần quan tâm chăm chút đến cái “tôi” riêng làm nên cái “ta”, đến từng cá nhân con người.

*

Đấu tranh cho một thế giới hòa bình

Về tác giả:

Ga-bi-en Gác-xi-a Mác-két (1928 – 2014). Là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết và tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo. Đấu tranh cho một thế giới hoà bình mang tính thời sự của toàn nhân loại, ảnh hưởng đa chiều đến chiến tranh thế giới.

Tóm tắt văn bản:

Bài viết Đấu tranh cho một thế giới hòa bình của Mác-két đề cập đến vấn đề mang tính thời sự của toàn nhân loại: nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn thể loài người và sự sống trên trái đất, cuộc chạy đua vũ trang vô cùng tốn kém đã cướp đi của thế giới nhiều điều kiện để phát triển. Từ đó tác giả đặt ra vấn đề: nhân loại cần phải đấu tranh cho một thế giới hòa bình, ngăn chặn và xóa bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân.

*

Trên đây là 23 tác phẩm văn học để lại ấn tượng sâu sắc đối với người đọc. Từ những tác phẩm này còn mang đến cái nhìn hiện thực của những con người thống khổ nhưng vẫn mong chờ vào cuộc sống tốt đẹp hơn. Hy vọng rằng, với những chia sẻ của Bamboo School giúp bạn học có thể cảm nhận được cái nhìn đa chiều của các tác phẩm văn học khi ấy. Chúc bạn học thật tốt!

Nhằm mục đích giúp học sinh nắm vững kiến thức các tác phẩm Ngữ văn lớp 9, Viet
Jack biên soạn bản tổng hợp kiến thức trọng tâm tác giả tác phẩm Ngữ văn 9 đầy đủ về nội dung tác phẩm, đôi nét về tác giả, bố cục, tóm tắt, dàn ý, sơ đồ tư duy, ...

Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 1

Tác giả - Tác phẩm Ngữ văn 9 Học kì 2

Phong cách Hồ Chí Minh - tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

A. Nội dung tác phẩm Phong cách Hồ Chí Minh

+ Vẻ đẹp phong cách Hồ Chí Minh được thể hiện trong nhận thức và hành động.

+ Đặt ra vấn đề trong thời kì hội nhập: Tiếp thu có chọn lọc văn hóa nước ngoài và giữ gìn bản sắc dân tộc.

B. Đôi nét về tác phẩm Phong cách Hồ Chí Minh

1. Tác giả

- Tên thật: Lê Anh Trà (1927 – 1999).

- Quê quán: xã Phổ Minh, huyện Phổ Đức, tỉnh Quảng Ngãi.

- Ông vừa nghiên cứu khoa học, vừa viết văn; có nhiều bài viết đã được công bố trên các tạp chí chuyên ngành.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

“Phong cách Hồ Chí Minh” được rút trong bài “Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị” của Lê Anh Trà, in trong cuốn sách “Hồ Chí Minh và văn hóa Việt Nam” do Viện Văn hóa xuất bản năm 1990.

b. Phương thức biểu đạt

Thuyết minh

c. Bố cục

- Đoạn 1 (Từ đầu đến “rất hiện đại”): Cơ sở và quá trình hình thành phong cách Hồ Chí Minh.

- Đoạn 2 (từ tiếp đến “hạ tắm ao”): Những biểu hiện của phong cách Hồ Chí Minh.

- Đoạn 3 (từ tiếp đến hết): Ý nghĩa phong cách Hồ Chí Minh.

d. Giá trị nội dung

Vẻ đẹp trong phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, thanh cao và giản dị.

e. Giá trị nghệ thuật

+ Bài viết là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa văn thuyết minh và các yếu tố kể chuyện, bình luận.

+ Ngôn ngữ trang trọng, lập luận chặt chẽ, dẫn chứng xác thực.

+ Sử dụng khéo léo biện pháp so sánh, nghệ thuật đối lập.

C. Sơ đồ tư duy Phong cách Hồ Chí Minh

*

D. Đọc hiểu văn bản Phong cách Hồ Chí Minh

1. Cơ sở và quá trình hình thành phong cách Hồ Chí Minh

+ Vốn tri thức văn hoá của Bác: “Có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới, văn hoá thế giới sâu sắc như Hồ Chí Minh”.

- Nghệ thuật: So sánh một cách bao quát đan xen giữa kể và bình luận để khẳng định vốn tri thức văn hoá của Bác rất sâu rộng.

- Trong cuộc đời hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều nơi, tiếp xúc với nhiều nền văn hoá.

+ Nói và viết thạo nhiều thứ tiếng ngoại quốc: Pháp, Anh, Hoa, Nga.

+ “Học hỏi, tìm hiểu văn hoá, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm”

→ Học hỏi tìm hiểu đến mức sâu sắc.

+ “Chịu ảnh hưởng của tất cả các nền văn hoá, tiếp thu mọi các đẹp, cái hay cái đẹp”

+ “Phê phán những tiêu cực của chủ nghĩa tư bản”

⇒ “… tất cả những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người, để trở thành nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng rất mới, rất hiện đại…”.

⇒ Nghệ thuật đối lập: khẳng định phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, giữa phương Đông và phương Tây, xưa và nay, dân tộc và quốc tế.

2. Những biểu hiện của phong cách Hồ Chí Minh

Thể hiện ở lối sống giản dị mà thanh cao:

+ Nơi ở, nơi làm việc đơn sơ: nhà sàn nhỏ, vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ…

+ Trang phục giản dị: Bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ.

+ Tư trang ít ỏi: một chiếc vali con với vài bộ quần áo, vài vật kỷ niệm.

+ Ăn uống đạm bạc: cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa…

- Nếp sống giản dị và thanh đạm của Bác cũng giống như các nhà nho nổi tiếng trước đây (Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm)

→ Nét đẹp của lối sống rất dân tộc, rất Việt Nam

⇒ Đây là phong cách sống có văn hoá thể hiện một quan niệm thẩm mĩ: cái đẹp gắn liền với sự giản dị, tự nhiên

- Lối sống giản dị, trong sáng mà vô cùng thanh cao, sang trọng.

- Đó là cách sống không tự đề cao, không tự đặt mình lên trên mọi thứ thông thường ở đời của những con người tự vui trong cảnh nghèo khó.

3. Ý nghĩa phong cách Hồ Chí Minh

- Phong cách Hồ Chí Minh là dẫn chứng sinh động về thành quả của quá trình học tập và rèn luyện không ngừng.

- Phong cách Hồ Chí Minh là minh chứng thuyết phục cho quan điểm: nên tiếp thu văn hóa nước ngoài một cách chọn lọc, “hòa nhập nhưng không hòa tan”.

- Hồ Chí Minh là nhân vật hiếm có, khiến người đọc tự hào về con người Việt, văn hóa Việt và bản sắc Việt, từ đó có ý thức học tập theo gương Bác Hồ.

E. Bài văn phân tích Phong cách Hồ Chí Minh

Chủ tịch Hồ Chí Minh không những là nhà yêu nước, nhà cách mạng vĩ đại mà còn là danh nhân văn hóa thế giới. Vẻ đẹp văn hoá chính là nét nổi bật trong phong cách của Người. Vậy, điều gì làm nên vẻ đẹp trong phong cách sống và phong cách làm việc của chủ tịch Hồ Chí Minh? Đó chính là sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại, giữa dân tộc và nhân loại, giữa vẻ đẹp cao cả và sự giản dị. “Phong cách Hồ Chí Minh” trích trong bài Phong cách Hồ Chí Minh, cái vĩ đại gắn với cái giản dị” của tác giả Lê Anh Trà một lần nữa cho chúng ta hiểu được tầm vóc lớn lao trong cốt cách văn hóa của Người. Đây là văn bản thuộc chủ đề hội nhập với tinh hoa văn hóa thế giới và việc phát huy vẻ đẹp văn hóa dân tộc.

Trước hết, tác giả tập trung làm sáng tỏ sự tiếp thu tinh hoa, văn hóa nhân loại để tạo nên một nhân cách, một lối sống rất hiện đại của Hồ Chí Minh. Năm 1911: “Đất nước đẹp vô cùng. Nhưng Bác phải ra đi”. Trong cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian nan vất vả, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi qua nhiều nơi, "đã tiếp xúc" với nhiều nền văn hóa từ phương Đông tới phương Tây. Người "đã ghé lại" nhiều hải cảng, "đã thăm các nước châu Phi, châu Á, châu Mĩ”. Người "đã từng sống dài ngày" ở Pháp, ở Anh. Và “Người đã làm nhiều nghề”. Trong bài thơ “Người đi tìm hình của nước”, Chế Lan Viên đã viết:

"Có nhớ chăng hỡi gió rét thành Ba LêMột viên gạch hồng, Bác chống lại cả một mùa băng giá
Và sương mù thành Luân Đôn, ngươi có nhớ
Giọt mồ hôi Người nhỏ giữa đêm khuya

Đời bồi tàu lênh đênh theo sóng bể,

Người đi hỏi khắp bóng cờ châu Mĩ, châu Phi

Những đất tự do, những trời nô lệ

Những con đường cách mạng đang tìm đi."

Trong quá trình bôn ba tìm đường cứu nước, Người đã nỗ lực học tập để nắm chắc nhiều thứ tiếng nước ngoài. Người hiểu rằng, muốn tìm hiểu về bất cứ dân tộc nào, quốc gia nào thì trước hết phải nắm vững phương tiện giao tiếp là ngôn ngữ. Chính vì thế, Người khổ công luyện tập để "nói và viết thạo" nhiều ngoại ngữ như Pháp, Anh, Hoa, Nga. Phương pháp học tập của Người cũng hết sức đặc biệt. Đó là học qua thực tế công việc của nhiều nghề khác nhau và học từ trong hiện thực cuộc sống phong phú, sôi động xung quanh. Đặc biệt là “đến đâu Người cũng học hỏi, tìm hiểu văn hóa, nghệ thuật đến một mức khá uyên thâm". Tác giả khẳng định: “có thể nói ít có vị lãnh tụ nào lại am hiểu nhiều về các dân tộc và nhân dân thế giới văn hoá thế giới sâu sắc như Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Người "đã tiếp thu" mọi cái hay cái đẹp của các nền văn hóa đồng thời phê phán những hạn chế, tiêu cực; “những ảnh hưởng quốc tế đó đã nhào nặn với cái gốc văn hóa dân tộc không gì lay chuyển được ở Người”. Sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa nhân loại đã làm nên "một nhân cách rất Việt Nam, một lối sống rất bình dị, rất Việt Nam, rất phương Đông, nhưng cũng đồng thời rất mới, rất hiện đại".

Sau khi phân tích cốt lõi của phong cách Hồ Chí Minh là sự kết hợp hài hoà giữa tinh hoa của dân tộc và nhân loại, tác giả giới thiệu nét đẹp hiếm có trong lối sống giản dị mà thanh cao của Người. Ở cương vị lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước nhưng Chủ tịch Hồ Chí Minh lại có lối sống vô cùng giản dị. Lối sống đó thể hiện qua căn nhà mà Người đang ở, qua đồ dùng và bữa cơm hằng ngày.

Nơi ở và nơi làm việc của Người đơn sơ. Đó là “chiếc nhà sàn nhỏ bằng gỗ bên cạnh chiếc ao” như cảnh làng quê quen thuộc; “chiếc nhà sàn đó cũng chỉ vẻn vẹn có vài phòng tiếp khách, họp Bộ Chính trị, làm việc và ngủ”. Trong tập thơ "Theo chân Bác", nhà thơ Tố Hữu đã có những câu thơ đầy xúc động:

Ba gian nhà trống, nồm đưa võng Một chiếc giường tre, chiếu mỏng manh

Sự đơn sơ ấy không chỉ thể hiện qua ngôi nhà ở Làng Sen, mà còn thể hiện ở qua ngôi nhà sàn giữa Thủ đô Hà Nội:

Nhà gác đơn sơ một góc vườn

Gỗ thường mộc mạc chẳng mùi sơn

Giường mây, chiếu cói, đơn chăn gối

Tủ nhỏ, vừa treo mấy áo sờn.

Trang phục của Người cũng hết sức giản dị: “bộ quần áo bà ba nâu, chiếc áo trấn thủ, đôi dép lốp thô sơ”; tư trang ít ỏi: “một chiếc va li con với vài bộ áo quần, vài vật kỉ niệm”. Nói về sự giản dị của Người, có rất nhiều bài thơ viết về chiếc áo vải, áo ka ki bạc màu, đôi dép lốp cao su... Trong bài “Sáng tháng năm”, nhà thơ Tố Hữu viết:

Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị

Màu quê hương bền bỉ đậm đà

Nhà thơ Thu Bồn trong bài “Gửi lòng con đến cùng cha” thì tâm tình:

Hành trang Bác chẳng có gì

Một đôi dép mỏng đã lì chông gai

Còn nhà thơ Hải Như trong bài “Chúng cháu canh giấc Bác ngủ, Bác Hồ ơi” lại thể hiện ở một góc độ khác:

Bác nằm đó, bộ ka-ki Bác mặcChưa kịp thay, Người vừa ngả lưng nằm

……… . .

Đôi dép lốp như cùng ta kể rõ

Người quên Người dành hết thảy cho ta

Nét đẹp trong lối sống giản dị của Người không chỉ thể hiện qua căn nhà Người đang ở, qua trang phục và đồ dùng cá nhân mà còn thể hiện qua việc ăn uống. Tác giả Lê Anh Trà đã viết: “Hằng ngày, việc ăn uống của Người cũng rất đạm bạc, với những món ăn dân tộc không chút cầu kì, như cá kho, rau luộc, dưa ghém, cà muối, cháo hoa”. Trong bài “Muôn vàn tình thân yêu trùm lên khắp quê hương”, nhà thơ Việt Phương đã ghi lại vẻ đẹp giản dị, đạm bạc ấy:

“Bác thường để lại đĩa thịt gà mà ăn trọn mấy quả cà xứ Nghệ

Không thích nói to vả đi lại rất khẽ cả trong vườn”

Cá, rau, dưa, cà, cháo hoa… đó là những món ăn giản dị, đậm hương sắc quê nhà. Cách sống giản dị, đạm bạc của Hồ Chí Minh lại vô cùng thanh cao. Đây không phải là cách sống khắc khổ của những người tự vui trong cảnh nghèo khó; cũng có văn hóa đã trở thành một quan niệm thẩm mĩ: cái đẹp là sự giản dị, tự nhiên.

Trong phần cuối của trích đoạn, tác giả “bất giác” nghĩa đến “các vị hiền triết ngày xưa như Nguyễn Trãi ở Côn Sơn hay Nguyễn Bỉnh Khiêm ở quê nhà với những thú quê thuần đức”. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm và chủ tịch Hồ Chí Minh đều mang nét đẹp trong phong cách giản dị mà thanh cao. Nguyễn Trãi đạm bạc mà thanh cao trong cuộc sống:

Bữa ăn dầu có dưa muối

Áo mặc nài chi gấm là

(Ngôn chí 3)

Đó là cuộc sống đạm bạc mà không khắc khổ, đạm đi với thanh. Đó là sự thanh cao trong cuộc sống trở về với tự nhiên, hòa hợp với tự nhiên để di dưỡng tinh thần. Nguyễn Trãi là con người của thời Trung đại nên những gì ông tiếp thu là tinh hoa văn hóa dân tộc và tinh hoa văn hóa Nho giáo, tinh hoa văn hóa phương Đông. Còn ở Chủ tịch Hồ Chí Minh là sự kết tinh những tinh hoa văn hóa truyền thống và hiện đại, sự kết tinh tinh hoa văn hóa nhân loại từ phương Đông tới phương Tây, từ châu Á, châu Âu đến châu Phi, châu Mĩ. Về điều này, do giới hạn của mối giao lưu văn hóa thời Trung đại mà bậc đại hiền triết xưa như Nguyễn Trãi không có được. Sự gần gũi giữa Bác với các bậc hiền triết làm tôn thêm phần cao quý ở Người.

Lối sống thanh đạm của Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở chúng ta suy ngẫm vể tính hiện đại, tầm cỡ thế giới và tính truyền thống, màu sắc dân tộc… Lối sống ấy là sự tích tụ những gì tinh tuý nhất của nhiều phương trời, nhiều thời đại, nhiều phong cách. Tác giả Lê Anh Trà khẳng định: "đây là lối sống thanh cao, một cách di dưỡng tinh thần, một quan niệm thẩm mĩ về cuộc sống, có khả năng đem lại hạnh phúc thanh cao cho tâm hồn và thể xác".

Đọc bài “Phong cách Hồ Chí Minh” của tác giả Lê Anh Trà, chúng ta hiểu rõ hơn những đặc điểm tạo nên nét đẹp về văn hóa, về lối sống của Người. Đó là sự kết hợp hài hoà giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và nhân loại, vĩ đại và bình dị. Càng hiểu rõ về Bác, chúng ta càng thêm tự hào, kính yêu Người, nguyện học tập và làm theo tấm gương đạo đức của Người. Trong thời kì hội nhập ngày nay, chúng ta cần tiếp thu văn hóa nhân loại, đồng thời phải giữ gìn phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.

Đấu tranh cho một thế giới hoà bình - tác giả, nội dung, bố cục, tóm tắt, dàn ý

A. Nội dung tác phẩm Đấu tranh cho một thế giới hoà bình

- Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe dọa toàn bộ sự sống trên trái đất.

- Nhiệm vụ của con người: ngăn chặn nguy cơ chiến tranh, đấu tranh cho một thế giới hòa bình.

B. Đôi nét về tác phẩm Đấu tranh cho một thế giới hoà bình

1. Tác giả

Ga-bi-en Gác-xi-a Mác-két:

- Sinh năm 1928, mất năm 2014.

- Là nhà văn người Cô-lôm-bi-a.

- Là tác giả của nhiều cuốn tiểu thuyết và tập truyện ngắn theo khuynh hướng hiện thực huyền ảo.

- Được nhận giải Nô-ben Văn học năm 1982.

2. Tác phẩm

a. Hoàn cảnh sáng tác

Tháng 8 năm 1986, nguyên thủ của 6 quốc gia (Ấn Độ, Mê-hi-cô, Thụy Điển, Ác-hen-ti-na, Hi Lạp, Tan-da-ni-a) họp tại Mê-hi-cô để ra lời kêu gọi chấm dứt chạy đua vũ trang, thủ tiêu vũ khí hạt nhân, đảm bảo an ninh và hòa bình thế giới. Mác-két được mời tham dự và văn bản này được trích từ bản tham luận của ông.

b. Bố cục

Văn bản được chia thành 3 phần:

- Phần 1 (Từ đầu đến “sống tốt đẹp hơn”): Nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân.

- Phần 2 (Tiếp theo đến “xuất phát của nó”): Sự nguy hiểm và phi lí của chiến tranh hạt nhân.

- Phần 3 (còn lại): Nhiệm vụ của chúng ta.

c. Ý nghĩa nhan đề

Muốn ngăn chặn, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh hạt nhân thì phải xác định một thái độ hành động tích cực, đấu tranh cho hoà bình vì sự sống của chính con người.

=> Nhan đề mang ý nghĩa thời đại, có tính nhân văn sâu sắc, thể hiện luận điểm cơ bản của bài văn, đồng thời như một khẩu hiệu, kêu gọi, hướng nhân loại tới một thái độ đấu tranh tích cực.

d. Giá trị nội dung

Văn bản “Đấu tranh cho một thế giới hòa bình” kêu gọi toàn nhân loại đoàn kết ngăn chặn chiến tranh hạt nhân, bảo vệ hòa bình và sự sống trên trái đất.

e. Giá trị nghệ thuật

- Lập luận chặt chẽ, có chứng cứ cụ thể, xác thực.

- Nghệ thuật so sánh sắc sảo, giàu sức thuyết phục.

C. Sơ đồ tư duy Đấu tranh cho một thế giới hoà bình

*

D. Đọc hiểu văn bản Đấu tranh cho một thế giới hoà bình

1. Luận điểm và hệ thống luận cứ

- Luận điểm: Nguy cơ chiến tranh hạt nhân đang đe doạ toàn thể loài người và sự sống trên trái đất. Vì vậy, đấu tranh cho hoà bình, ngăn chặn và xoá bỏ nguy cơ chiến tranh hạt nhân là nhiệm vụ thiết thực và cấp bách của mỗi người, toàn thể loài người.

- Hệ thống luận cứ:

+) Kho vũ khí hạt nhân đang được tàng trữ có khả năng huỷ diệt cả trái đất và các hành tinh khác trong hệ mặt trời.

+) Cuộc chạy đua vũ trang làm mất đi khả năng cải thiện đời sống cho hàng tỷ người.

+) Chiến tranh hạt nhân không những đi ngược lại lý trí của loài người mà còn ngược lại với lý trí của tự nhiên, phản lại sự tiến hoá.

+) Tất cả chúng ta phải có nhiệm vụ ngăn chặn cuộc chiến tranh hạt nhân, đấu tranh vì một thế giới hoà bình.

⇒ Luận điểm thể hiện rõ thực trạng, nguy cơ chiến tranh và thái độ, tư tưởng của tác giả, kêu gọi đấu tranh vì hoà bình. Các luận cứ mạch lạc, chặt chẽ, sâu sắc.

2. Nguy cơ bùng nổ chiến tranh hạt nhân

- Đưa ra con số cụ thể: “50.000 đầu đạn hạt nhân…, mỗi người ngồi trên 4 tấn thuốc nổ”. Dẫn điển tích: “Thanh gươm Đa-mô-clét”.

- Nguy cơ hủy diệt:

+ “Tất cả chỗ đó nổ tung sẽ làm biến hết thảy, không phải là một lần mà là mười hai lần mọi dấu vết của sự sống trên trái đất”.

+ “Kho vũ khí ấy có thể tiêu diệt tất cả các hành tinh xoay quanh mặt trời, cộng thêm bốn hành tinh nữa và phá hủy thế thăng bằng của hệ mặt trời”.

- Nghệ thuật:

+ Dùng phép so sánh: “không có một ngành khoa học nào… không có một đứa con nào…”

+ Nghệ thuật tăng cấp

=> Gây ấn tư

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.