Danh Sách Quốc Gia/khu Vực Theo Chiều Cao Trung Bình Của Người Châu Á ?

Từ một quốc gia mà người dân có chiều cao trung bình thấp nhất thế giới, chỉ sau vài thập kỷ, người Nhật đã bước vào top đầu Châu Á về chiều cao bằng cách cải thiện “gen” của mình.

Bạn đang xem: Chiều cao trung bình của người châu á

*

Ảnh: Internet

Những bằng chứng và ghi chép còn lại cho thấy, trong vòng 10.000 năm trước cuộc "cách mạng tăng chiều cao", người Nhật chỉ cao thêm khoảng 10cm. Nhưng chỉ trong vòng 25 năm sau chiến tranh thế giới thứ 2, chiều cao của phụ nữ Nhật đã tăng 10,16cm.

Vào những năm 1990 chiều cao trung bình của một nữ sinh lớp 6 ở Nhật đã cao hơn 16cm so với các bé gái có cùng độ tuổi cuối thập kỷ 1940, trong khoảng những năm từ 1900-1968 chiều cao trung bình của các bé trai Nhật (14 tuổi) đã tăng lên 12,57cm. Theo báo cáo của Bộ sức khỏe và phúc lợi Nhật Bản thì vào những năm 1960 trẻ em 14-15 tuổi đã cao hơn cả cha mẹ mình.

Chiều cao của người Nhật tăng lên đáng kinh ngạc sau mỗi 10 năm. Từ đất nước có chiều cao khiêm tốn ở những năm 50 thế kỷ trước, Nhật quyết tâm tăng chiều cao trung bình của người dân lên 10cm trong 40 năm, đạt mức 172cm với nam và 157cm với nữ tuổi trưởng thành.

Bắt đầu từ năm 1946, chính phủ Nhật Bản đã kết hợp với các quỹ tư nhân, các công ty về chăm sóc sức khỏe tiến hành hàng trăm nghìn công trình nghiên cứu về thể trạng của người Nhật, các yếu tố về chiều cao, cân nặng, độ nhạy cảm với bệnh ung thư, kinh nguyệt phụ nữ, độ tuổi dậy thì… đề được đo đạc và tính toán một cách cẩn thận để từ đó đưa ra một chiến lược phát triển chiều cao tổng thể cho toàn dân.

Năm 1954, Quốc hội Nhật Bản thông qua Luật Cấp dưỡng trong trường học, quy định việc đầu tư kinh phí và tiêu chuẩn thực hiện cấp dưỡng trong trường học. Theo số liệu của Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản, năm 1975 tỉ lệ thực hiện cấp dưỡng trong trường tiểu học đạt 93%, đến năm 2012 đã đạt 99,2%.

*

Ảnh: Internet

Tiêu chuẩn dinh dưỡng trong bữa ăn cho học sinh được thay đổi nhiều lần, với thực đơn ngày càng phong phú, trong đó mỗi ngày một cốc sữa luôn là yêu cầu bắt buộc do Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản đưa ra. Sữa bò được Chính phủ Nhật Bản xem là thực phẩm bổ sung canxi hoàn hảo nhất. Năm 1954, Nhật Bản đưa ra “Luật Phát triển ngành chế biến sữa”, nhằm thúc đẩy sản xuất các sản phẩm sữa trong nước.

Năm 1964, Bộ Giáo dục và Khoa học và Bộ Nông lâm Nhật Bản đã phối hợp xây dựng Sách lược cung cấp sữa trong trường học, tăng cường cung cấp sữa cho học sinh. Theo yêu cầu, các trường tiểu học và trung học mỗi năm cần cung cấp sữa trong 195 ngày, trong đó học sinh tiểu học mỗi ngày 200 ml sữa, học sinh trung học mỗi ngày 300 ml.

Năm 1952, Chính phủ Nhật Bản ban hành Luật Cải thiện chất lượng dinh dưỡng và việc điều tra tình trạng dinh dưỡng quốc dân được tiến hành mỗi năm một lần. Ở Nhật Bản, việc cấp dưỡng trong trường học được xem là một phần quan trọng trong công tác giáo dục.

Năm 1946, trong điều kiện vật chất thiếu thốn nghiêm trọng, để bảo đảm dinh dưỡng cho thiếu niên nhi đồng, Chính phủ Nhật Bản đã khích lệ các trường học thực hiện cung cấp bữa trưa cho học sinh, trong đó thực phẩm cho học sinh bắt buộc phải phù hợp tiêu chuẩn dinh dưỡng của Chính phủ đưa ra và được các chuyên gia về dinh dưỡng chế biến.

Năm 1964, Nhật Bản đã xây dựng sách lược cung cấp sữa trong các trường học để các học sinh tiểu học và trung học được uống sữa tối thiểu 195 ngày/năm. Năm 1952, Nhật ban hành Luật Cải thiện chất lượng dinh dưỡng. Theo đó, tình trạng dinh dưỡng của quốc gia được điều tra mỗi năm một lần. Trong khẩu phần ăn hàng ngày của giới trẻ đều được áp dụng khẩu hiệu “một ly sữa làm lành mạnh dân tộc”.

Bắt đầu từ năm 1947, bữa trưa của học sinh tiểu học được nhà trường phục vụ trong khẩu phần ăn bao gồm sữa bột, bột mì và thực phẩm đóng hộp. Theo số liệu điều tra năm 1966 thì mỗi người Nhật tiêu thụ khoảng 49,9mg canxi mỗi ngày so với chỉ 2mg vào năm 1949.

Bên cạnh các thực phẩm cơ bản là tinh bột, ngũ cốc, cá, rau thông thường, khẩu phần ăn của trẻ em Nhật được bổ sung thêm sữa, bơ, phomai, trứng, thịt… và giảm tiêu thụ chất béo. Nhờ đó mà chiều cao của người Nhật đã có sự nhảy vọt nhanh chóng, đặc biệt là trong giai đoạn 1960 – 1985.

Ngoài sữa, người Nhật còn tiêu thụ mạnh các sản phẩm từ sữa như phomat, bơ. Chính phủ và các doanh nghiệp tư nhân cũng đóng một vai trò quan trọng trong việc đưa sữa tới cơ quan, trường học, tới các máy bán hàng tự động ở trạm tàu hỏa.

*

Ảnh: Internet

Nhà trường thường xuyên thanh tra theo dõi chế độ dinh dưỡng của trẻ một cách nghiêm ngặt. Họ còn lên các thực đơn với năng lượng calo thích hợp cung cấp cho các bậc cha mẹ để họ chuẩn bị cho bữa sáng và bữa tối. Kiến thức về dinh dưỡng, liên tục tuyên truyền để toàn dân biết được yếu tố di truyền chỉ quyết định 23% chiều cao của trẻ, còn lại là do chế độ dinh dưỡng và yếu tố môi trường khác.

Người Nhật luôn đảm bảo cung cấp lượng tinh bột chiếm 60% trong bữa ăn. Tinh bột cung cấp năng lượng cho cơ thể, giúp no lâu và hạn chế các nguy cơ về bệnh tim mạch, tiểu đường, mỡ máu, béo phì,... Ba nhóm thực phẩm chứa tinh bột trong các bữa ăn của người Nhật như: khoai, ngũ cốc (lúa mì, ngô, yến mạch…), các loại đậu (đậu xanh, đậu đỏ…).

Vitamin và khoáng chất: Không những thế, chính phủ Nhật còn tận dụng triệt để những bữa trưa ở trường để cung cấp các đơn thuốc, vitamin & khoáng chất... nhằm thúc đẩy chiều cao của học sinh. Thậm chí có nhiều em nhỏ có thể trạng kém hơn bạn bè được nghỉ ngơi một chế độ riêng biệt, khác với các bạn trong lớp để gia tăng khả năng trao đổi chất.

Hàm lượng vitamin và khoáng chất cần cung cấp cho cơ thể mỗi ngày chiếm 25% khẩu phần ăn. Trong đó, bổ sung các loại vitamin cần thiết cho sự phát triển chiều cao là vitamin D3, vitamin K2... Đây đều là các vitamin giúp tăng khả năng hấp thụ canxi, vận chuyển canxi vào xương giúp xương phát triển dài và chắc khỏe. Đặc biệt, tích cực bổ sung các khoáng chất thiết yếu đối với sự tăng trưởng của xương như canxi, protein, sắt, kẽm, mangan…

Chất đạm: Chất đạm rất cần thiết cho sự phát triển của các tế bào trong cơ thể và cho quá trình tăng chiều cao của trẻ. Mỗi ngày, trẻ cần được cung cấp 15% chất đạm trong tổng khẩu phần. Chất đạm có trong những thực phẩm như cá ngừ, mực, thịt bò, trứng...

Tích cực uống sữa: Bên cạnh đó, sữa là một trong những thực phẩm không thể thiếu trong chế độ ăn uống hàng ngày. Đây là thức uống rất giàu dinh dưỡng, đặc biệt là canxi - thành phần chính của xương. Canxi là thành phần cấu tạo nên xương, giúp xương phát triển nhanh và khỏe mạnh. Bởi vậy, chính phủ Nhật đã thực hiện kế hoạch “một ly sữa làm mạnh một dân tộc” để bổ sung vào khẩu phần ăn của giới trẻ. Đặc biệt các lớp mầm non tới cấp 2 đều được uống sữa lúc 10 giờ sáng hàng ngày.

Ngoài nguồn canxi từ sữa, người Nhật còn bổ sung thêm các thực phẩm giàu canxi như cá, đậu, tôm, cua, rau xanh... để chế độ dinh dưỡng đầy đủ và đa dạng hơn. Chính phủ Nhật còn thực hiện “giờ uống sữa” vào 10h sáng hằng ngày đối với học sinh mầm non cho đến cấp 2. Các bà mẹ ở Nhật từ khi mang thai hoặc đang chăm sóc con nhỏ đều được tham dự các lớp học miễn phí về cách chăm sóc con, cách chuẩn bị món ăn đầy đủ và cân bằng dưỡng chất.

Như vậy, cùng với giáo dục thể chất, cuộc cách mạng về dinh dưỡng mà cụ thể là thực đơn dành cho học sinh đã có tiến bộ vượt bậc, giúp cho trẻ em Nhật Bản có được chiều cao lý tưởng như ngày hôm nay.

Theo dõi chúng tôi qua:

Có bao giờ bạn tự hỏi: Tại sao của mỗi quốc gia trên thế giới lại có sự khác nhau? Nếu câu trả lời là di truyền thì chưa hẳn! Người Hà Lan và người Đức có gen tương đồng với nhau nhưng người Hà Lan cao hơn. Thêm nữa, chiều cao chỉ là yếu tố phản ánh sức khỏe, nhưng tất cả các quốc gia đều muốn danh hiệu cao nhất, tại sao lại như vậy? Đất nước nào đang dẫn đầu thế giới về chiều cao? Cùng Làm sao để cao “giải mã” chiều cao trung bình của các nước trên thế giới là bao nhiêu nhé.


Tóm Tắt Nội Dung
Tại sao chiều cao lại quan trọng đối với 1 quốc gia?
Yếu tố nào ảnh hưởng chiều cao của 1 quốc gia?
Chiều cao trung bình của các nước trên thế giới

Tại sao chiều cao lại quan trọng đối với 1 quốc gia?

Có thể nói chiều cao là sự phản ánh lòng tự tôn của một quốc gia. Trong đó, chiều cao giống như thước đo sức khỏe, điều kiện xã hội, sự phát triển kinh tế. Đó là lý do tại sao chiều cao lại quan trọng đối với một quốc gia.

*
Chiều cao phần nào thể hiện lòng tự tôn của quốc gia

Chiều cao là thước đo sức khỏe của quốc gia

Trong suốt thời thơ ấu, chiều cao phản ánh sự phát triển khỏe mạnh của một người. Điều này phần nào phản ánh chế độ dinh dưỡng và các yếu tố cơ bản ở tình trạng tốt. Chẳng hạn như những quốc gia có chế độ ăn nhiều protein hơn sẽ có nhiều khả năng có chiều cao trung bình tốt hơn.

Xem thêm: Top 6 miếng lót chống thấm cho mẹ sau sinh, tấm lót chống thấm

Chiều cao như tấm gương phản chiếu sự hạnh phúc của xã hội

Chăm sóc sức khỏe tốt và dinh dưỡng tốt trong thời kỳ mang thai, thời thơ ấu có thể giúp một người đạt được sự phát triển tối đa khi trưởng thành. Hầu hết chúng ta chỉ cao lên chứ ít khi giảm tầm vóc, chỉ trừ những trường hợp nạn đói hoặc chiến tranh.

Chiều cao phản ánh tình trạng kinh tế

Theo các nhà kinh tế, những yếu tố như dinh dưỡng, phúc lợi xã hội là kết quả của tình trạng kinh tế. Do đó, sự phát triển chiều cao cũng phản ánh tình trạng kinh tế của đất nước.

Yếu tố nào ảnh hưởng chiều cao của 1 quốc gia?

Có sự khác biệt lớn về chiều cao của con người trên toàn thế giới. Sự phát triển chiều cao được quyết định bởi các yếu tố di truyền và môi trường sống.

Di truyền ảnh hưởng đến chiều cao

Chiều cao một phần được quyết định bởi sự tương tác của các gen khác nhau. Những đột phá khoa học gần đây cho cho thấy có khoảng 700 biến thể di truyền có liên quan đến chiều cao. Nếu các thành viên trong gia đình đều sở hữu chiều cao lý tưởng thì bạn cũng như vậy. Ngược lại, nếu các thành viên không cao lớn thì bạn chỉ có một cơ hội nhỏ để trở thành người cao.

Chế độ dinh dưỡng ảnh hưởng đến chiều cao

Dinh dưỡng là một trong những yếu tố quyết định nhiều nhất đến chiều cao con người. Chúng ta chuyển đổi năng lượng hóa học được lưu trữ trong các thành phần dinh dưỡng đa lượng của thực phẩm thành năng lượng để hỗ trợ xương phát triển chiều dài.

*
Chế độ ăn uống là yếu tố dẫn đến sự cách biệt chiều cao giữa các quốc gia

Con người có thể thích nghi với chế độ ăn uống ít năng lượng hoặc thiếu dinh dưỡng bằng cách giảm tốc độ tăng trưởng, dẫn đến còi cọc và hạn chế phát triển chiều cao khi trưởng thành. Do đó, khẩu phần ăn không đủ năng lượng sẽ dẫn đến chiều cao trung bình thấp. Đó cũng là lý do tại sao, mỗi quốc gia đều có sự cách biệt về chiều cao ngay cả khi bộ gen gần như tương đồng.

Sức khỏe cũng ảnh hưởng đến chiều cao

Sức khỏe, đặc biệt là thời thơ ấu có ảnh hưởng không nhỏ đến chiều cao của con người. Bệnh tật trong thời thơ ấu có thể hạn chế sự phát triển vì nó làm giảm sự sẵn có của các chất dinh dưỡng và tăng nhu cầu trao đổi chất.

Nhập cư là yếu tố mới ảnh hưởng chiều cao

Trong một nghiên cứu về những người nhập cư, sự khác biệt chiều cao giữa người bản xứ và người nhập cư đã được chứng minh là có sự thay đổi. Ở đây nói về việc di cư từ các nước nghèo sang nước giàu có thể dẫn đến sự thay đổi về chế độ ăn uống, chăm sóc sức khỏe từ đó tạo nên sự khác biệt chiều cao đối với các thế hệ sau.

Chiều cao trung bình của các nước trên thế giới

Như đã nói, sự khác biệt về chiều cao không chỉ do yếu tố di truyền mà còn do sự khác biệt về điều kiện sống. Nhìn toàn cảnh chiều cao trung bình của các nước trên thế giới, có thể thấy rõ sự khác nhau. Người châu Âu có chiều cao nổi bật nhất, tiếp theo là châu Úc. Người Nam Á và Đông Nam Á có xu hướng thấp nhất.

(* Theo thống kê từ World Data)

Châu Á

Châu Á rộng lớn và được chia thành nhiều khu vực khác nhau gồm Trung Á, Tây Á, Đông Nam Á, Đông Á và Nam Á. Trong khi các nước thuộc khu vực Tây, Đông, Trung Á có chiều cao trung bình của nam từ 171cm và 160cm đối với nữ thì khu vực Nam và Đông Nam Á có phần kém hơn (166cm với nam và 155cm đối với nữ).

*
Chiều cao trung bình của người châu Á là 171cm – 160cm

Dưới đây là chiều cao trung bình của nam và nữ ở một số quốc gia châu Á tiêu biểu:

Nga: 176cm – 164cm
Thổ Nhĩ Kỳ: 176cm – 161cmẢ Rập: 173cm – 160cm
Iran: 175cm – 161cm
Trung Quốc: 175cm – 163cmĐài Loan: 173cm – 160cm
Nhật Bản: 172cm – 158cm
Thái Lan: 171cm – 159cm
Việt Nam: 168cm – 158cm
Indonesia: 166cm – 154cm

Châu Âu

Các nước châu Âu hiện đang dẫn đầu thế giới về chiều cao. Theo thống kê, các nước Tây Âu có chiều cao trung bình là 180cm với nam, 166cm đối với nữ. Tương tự, Nam Âu là 176cm – 163cm, Đông Âu là 178cm – 165cm và Bắc Âu là 179cm – 165cm.

*
Châu Âu là khu vực có chiều cao trung bình cao nhất thế giới

Dưới đây là chiều cao trung bình của nam và nữ ở một số quốc gia châu Âu tiêu biểu:

Hà Lan: 184cm – 170cm (Quốc gia cao nhất thế giới)Montenegro: 183cm – 170cm (Quốc gia cao thứ 2 thế giới)Estonia: 182cm – 168cm (Quốc gia cao thứ 3 thế giới)Đan Mạch: 182cm – 169cm
Bosnia và Herzegovina: 182cm – 167cm
Iceland: 181cm – 168cm
Cộng hòa Séc: 181cm – 168cm
Slovenia/ Slovakia/ Croatia: 181cm – 167cm
Thụy Điển: 180cm – 167cm
Phần Lan: 180cm – 166cmĐức: 180cm – 166cm
Thụy Sĩ: 179cm – 164cm

Châu Phi

Chiều cao trung bình của nam giới sống tại các quốc gia châu Phi là 169.6cm. Trong đó, chiều cao của nam trong từng khu vực là 169cm – Trung Phi và Nam Phi, 173cm – Bắc Phi, 167cm – Đông Phi và 170cm – Tây Phi.

Chiều cao trung bình của nữ giới tại các quốc gia châu Phi là 158.8cm. Trong từng khu vực, chiều cao sẽ có sự thay đổi khác nhau: 158cm – Trung Phi, 159cm – Nam Phi, 161cm – Bắc Phi, 157cm – Đông Phi và 159cm – Tây Phi.

*
Chiều cao của người dân châu Phi có sự khác biệt ở từng vùng

Dưới đây là chiều cao trung bình của nam và nữ ở một số quốc gia châu Phi tiêu biểu:

Morocco: 175cm – 161cm
Algeria: 174cm – 162cm
Ai Cập: 173cm – 160cm
Mauritius: 173cm – 159cm
Chad: 171cm – 162cm
Sudan/ Cameroon: 171cm – 160cm
Nigeria: 170 cm – 158cm
Kenya: 170cm – 159cm
Nam Phi: 169 cm – 158cm
Trung Phi: 168cm – 159cm

Châu Mỹ

Mỹ từng là quốc gia cao nhất thế giới, nhưng không lâu sau đó đã bị Hà Lan và các nước châu Âu “soán ngôi”. Nhìn chung, chiều cao trung bình của nam giới châu Mỹ vẫn giữ được phong độ là 173.5cm. Trong khi đó, chiều cao trung bình của nữ giới là 160.25cm.

Dưới đây là chiều cao trung bình của nam và nữ ở một số quốc gia châu Mỹ tiêu biểu:

Canada: 178 cm – 165cm
Mexico: 170cm – 157cm
Mỹ: 177cm – 163cm
Brazil: 175cm – 162cm
Argentina: 174cm – 161cm
Venezuela: 173cm – 160cm
Columbia: 171cm – 158cm
Bolivia: 168cm – 155cm
Ecuador: 167cm – 155cm

Châu Úc

*
Chiều cao trung bình của người châu Úc là 178cm (nam) và 165cm (nữ)

Chiều cao trung bình của nam giới châu Úc là 178cm và nữ giới là 165cm. Nhìn chung, các quốc gia ở châu Úc không có sự chênh lệch nhiều về chiều cao. Dưới đây là chiều cao trung bình của nam và nữ ở một số quốc gia châu Úc tiêu biểu:

Úc: 179cm – 165cm
New Zealand: 178cm – 165cm
Tonga: 175cm – 166cm
Samoa: 173cm – 163cm
Tuvalu: 171cm – 163cm
Kiribati: 170cm – 161cm
Palau: 170cm – 159cm
Micronesia: 169cm – 159cm
Nauru: 169cm – 158cm

So sánh chiều cao giữa các châu lục

Nhìn chung, chiều cao trung bình của người dân ở mỗi châu lục hiện nay đã có sự thay đổi tích cực so với những thế hệ trước đó. Tuy nhiên, tốc độ tăng trưởng sẽ khác nhau ở mỗi châu lục.

Có thể thấy, châu Âu là khu vực có chiều cao nổi bật nhất so với các châu lục khác. Khoảng 20 quốc gia top đầu trong BXH chiều cao của các nước thế giới đều thuộc châu Âu. Trong đó, Hà Lan, Montenegro, Estonia lần lượt đánh bại Mỹ và xếp thứ hạng nhất, nhì, ba. Trong khi đó, châu Phi và châu Á có chiều cao trung bình khu vực tương đối.

Sự khác biệt về chiều cao trên thế giới không chỉ cho thấy sự khác biệt về gen, mà còn là sự khác biệt về mức sống.

Chiều cao trung bình của con người là bao nhiêu?

Chiều cao trung bình toàn cầu của nam giới trưởng thành là 171cm. Mức chiều cao này có sự khác biệt ở nhiều quốc gia. Thấp nhất là nam giới Đông Timor với chiều cao 159cm và cao nhất là Hà Lan với 184cm, cách biệt nhau 25cm.

*
Chiều cao trung bình toàn cầu của nam là 171cm và nữ là 159cm.

Phụ nữ thường thấp hơn nam giới 12cm. Chiều cao trung bình toàn cầu của nữ giới trưởng thành là 159cm. Quốc gia có phụ nữ thấp nhất là Guatemala 151cm, cách biệt 19cm so với nước cao nhất – Hà Lan 170cm.

Mối quan hệ giữa chiều cao và cân nặng

Chiều cao và cân nặng có mối quan hệ tương quan. Cả hai được xem là chỉ số thể hiện sự phát triển khỏe mạnh của một người trong suốt thời thơ ấu và thời niên thiếu. Khi một trong hai chỉ số phát triển lệch chuẩn, chỉ số còn lại cũng sẽ bị ảnh hưởng.

Chẳng hạn, cấu tạo khung xương của bạn vốn chỉ nâng đỡ được trọng lượng 55kg. Nếu cân nặng vượt mức này, có thể gọi là thừa cân hoặc béo phì. Điều này tác động mạnh mẽ lên các khớp xương, đè nén sự phát triển. Trong khi đó, chế độ ăn uống vận động của những người thừa cân cũng góp phần không nhỏ vào việc thiếu dinh dưỡng để xương khỏe mạnh.

Mối quan hệ giữa chiều cao và cân nặng còn được thể hiện thông qua chỉ số khối cơ thể. Với công thức là cân nặng (kg) chia bình phương chiều cao (m). Kết quả dưới 18,5 là thiếu cân; 18,5 – 22,9 là bình thường với người châu Á và người nước ngoài là 18,5 – 24,9; vượt mốc 23 (châu Á) hoặc 25 được xếp vào hàng thừa cân, béo phì.

Hy vọng những thông tin bổ ích trên đã giúp bạn mở mang thêm kiến thức. Đừng quên theo dõi Làm sao để cao mỗi tuần để cập nhật những kiến thức thú vị và phương pháp tăng chiều cao khoa học nhé.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.