CÓ BAO NHIÊU VỊ PHẬT, BỒ TÁT? TÊN CÁC VỊ PHẬT VÀ BỒ TÁT CÓ BAO NHIÊU VỊ PHẬT, BỒ TÁT

Mỗi vị Phật, Bồ tát đều có một hình tướng, hạnh nguyện riêng, nhưng tất cả các Ngài đều có lòng thương chúng sinh vô hạn và làm lợi ích cho hết thảy.

Bạn đang xem: Tên các vị phật và bồ tát


Tìm hiểu về hình tượng Phật – Bồ tát, chúng ta thêm quý kính các Ngài, nguyện tu học theo gương hạnh của Quý Ngài hầu thoát ly sinh tử, đạt đến Niết Bàn.
Thích Ca: dịch là Năng Nhơn, Mâu Ni, là Tịch Mặc. Thích Ca Mâu Ni nghĩa là người hay phát khởi lòng nhân từ mà tâm hồn luôn luôn an tĩnh, vắng lặng. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người khai sáng ra đạo Phật, Ngài được thờ ngay giữa chính điện, ngự trên đài sen với tư thế ngồi kiết già, hoặc ngồi kiết già với tay phải cầm hoa sen đưa lên.

*
 Ảnh Đức Phật Thích Ca Mâu Ni

2. Đức Phật A Di Đà


A Di Đà còn được gọi là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang và Vô Lượng Công Đức. Nghĩa là tuổi thọ, hào quang và công đức của Ngài không thể lường được.Ta thường thấy hình tượng Phật A Di Đà đứng trên tòa sen, tay trái cầm đài sen, tay phải duỗi xuống để tiếp dẫn chúng sanh. Các chùa hay thờ tượng Ngài đứng giữa, bên phải là Bồ tát Quán Thế Âm, bên trái Ngài là Bồ tát Đại Thế Chí. Đây gọi là Tây Phương Tam Thánh.

*
Đức Phật A Di Đà phát 48 lời nguyện để tiếp dẫn chúng sanh về nước Cực Lạc

3. Đức Phật Di lặc


Di Lặc hay Di Lạc, tức vui vẻ và hoan hỷ, Ngài là vị Phật ở đời tương lai. Tượng Phật Di Lặc mập mạp, bụng to, miệng cười rất tươi. Bụng to là chỉ cho sự bao dung rộng lượng, miệng cười là chỉ cho lòng hỷ xả, không vướng mắc. Có nơi thờ tượng Phật Di Lặc có thêm sáu chú tiểu bám ở quanh mình, biểu trưng sáu căn của một con người.

*
 Ảnh Đức Phật Di Lặc

4. Bồ Tát Quán Thế Âm


Quán là quán sát, lắng nghe; Thế là thế gian; Âm là âm thanh. Bồ Tát Quán (Quan) Thế Âm là vị Bồ Tát quán sát, lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để kịp thời cứu giúp họ thoát khổ. Tay phải Ngài cầm nhành dương liễu, tay trái cầm bình nước Cam Lồ để tưới mát chúng sanh, trên đỉnh đầu có hình Đức Phật A Di Đà. Có rất nhiều hình tượng Quán Thế Âm như: Quan Âm Lộ Thiên, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn,…

*
Ngài thương chúng sanh như mẹ thương con nên người ta thường tạc tượng Ngài mang hình dáng người nữ. Có nơi gọi Ngài là Mẹ Hiền Quán Thế Âm

5. Bồ Tát Đại Thế Chí


Đại Thế Chí Bồ Tát còn được gọi là Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ tát, Vô Biên Quang Bồ tát,… hay vắn tắt là Thế Chí.

Ngài là vị Bồ tát thường dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp mọi loài, khiến chúng sanh mười phương thế giới thoát khổ đau, thành tựu đạo quả Bồ đề. Đắc Đại Thế Bồ tát vì Bồ tát có hạnh nguyện đại hùng đại lực đại từ bi, dùng hạnh nguyện này để trụ trong Ta bà thế giới, điều phục và tiếp độ chúng sanh cang cường.


*
 Ảnh Bồ Tát Đại Thế Chí


Địa Tạng có nghĩa là An Nhẫn, bất động như đại địa; tư duy sâu xa kín đáo như kho tàng bí mật. Ngài mặc áo cà sa, đội mũ tỳ lô, tay phải cầm tích trượng có mười hai khoen, tay trái nắm viên minh châu. Ngài thường được thờ trong Chánh Điện bên phải Đức Phật Thích Ca, hoặc nơi nhà thờ các vong linh.

*
Hạnh nguyện của Bồ Tát Địa Tạng là: độ hết chúng sanh trong Địa Ngục thành Phật thì Ngài mới chứng quả Vô Thượng Bồ Đề

7. Đức Phật Dược Sư

Thông Thường có 7 Đức Phật Dược Sư, hoặc 8 Đức Dược Sư (nếu cộng thêm Đức Thích Ca Mâu Ni), hạnh nguyện của các Ngài rất tương đồng như giúp chúng sinh được cứu khổ ban vui, sinh vào thiện đạo,thân hình đầy đủ các căn, được giàu có, xinh đẹp, thọ mạng dài lâu, tiêu trừ các tội lỗi về phạm giới khuyết giới, tiêu trừ các tội trộm cắp nghèo khó, giúp trừ các bệnh khổ thân tâm ma quỷ ám hại, được vãng sinh Tịnh Độ….

Bản Hán văn bên Trung Quốc nguyên có 7 bộ Kinh Dược Sư tương ứng với công đức bản Nguyện của 7 vị Phật gọi là Kinh Thất Phật Dược Sư Bản Nguyện Công Đức phần nói về 6 Đức Dược Sư là Quyển Thượng và phần nói về Đức Dược Sư Lưu Ly Quang là quyển hạ, tuy vậy khi truyền sang Việt Nam thì chỉ có 1 bộ Bản Nguyện Công Đức của Phật Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai do Ngài Pháp Sư Huyền Trang dịch, nguyên nhân cũng do một phần Việt Nam thịnh hành pháp môn Trì danh hiệu Phật.

*
 Vị Phật ban thuốc trị bệnh thân và bệnh tâm cho chúng sanh.

8. Phật Mẫu Chuẩn Đề

Thân vị Bồ-tát nầy có màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết gia trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc. Đầu đội mão báu có ngọc lưu ly rũ treo, có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt. Vị Bồ-tát nầy chuyên hộ trì Phật pháp và bảo hộ những chúng sinh có mạng sống ngắn ngủi được thọ mạng lâu dài. Pháp môn tu hành của vị Bồ-tát nầy là trì tụng bài chú: Nam mô tát đa nẫm, tam miệu tam bồ đà Câu chi nẫm, đát diệt tha: án, chiết lệ chủ lệ chuẩn đề ta bà ha.

*
 Vị Phật thương chúng sanh như mẹ thương con. Ngài thường có hình tượng 4 tay, 6 tay, 12 tay, 18 tay,…

9. Bồ Tát Thiên Thủ Thiên Nhãn

Trong Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni của Mật tông có nói: “Trong vô lượng ức kiếp thời quá khứ, Bồ tát Quan Thế Âm nghe Đức Thiên Quang Vương Tĩnh Chú Như Lai nói thần chú Đại Bi Tâm Đà La Ni bèn phát nguyện làm lợi ích, an lạc tất cả chúng sinh. Liền khi ấy, trên người mọc ra một nghìn con mắt và một nghìn bàn tay”.

Thiên thủ thiên nhãn là ngàn mắt ngàn tay. Con số ngàn không chỉ có nghỉa đen là đúng một ngàn , mà ám chỉ một số lượng nhiều vô số kể, không đếm được. Do đó nên hình tượng Quan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn trên thực tế tại các chùa có thể có hơn 1000 tay, cũng có thể có vài chục tay hay vài trăm tay.

Nghìn mắt để thấy khắp thế gian và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh

Bàn tay tượng trưng cho hành động. Muốn làm việc gì cũng phải dùng đến bàn tay.

Con mắt tượng trưng cho sự xem xét, quán thông, thấu suốt, thấy rõ tường tận tất cả chúng sinh ở các cõi, thấy cả xa lẫn gần, cả to lớn lẫn tế vi, trước mặt và sau lưng, trên và dưới, ban ngày và ban đêm…

Tượng có thể có hình con mắt trong lòng bàn tay, tượng trưng cho ý nghĩa hễ mắt để đâu thì tay theo đó. Hễ nhìn thấy nơi nào có chúng sanh khổ nạn là ngài ứng hiện và dang bàn tay từ bi ra để cứu giúp tức thì.

*
 Vị Bồ Tát có ngàn mắt để nhìn hết nỗi khổ chúng sanh, có ngàn tay để cứu vớt chúng sanh khỏi biển khổ.

10. Bồ tát Văn Thù Sư Lợi

Bồ tát Văn Thù Sư Lợi nói cho đủ theo âm Hán là Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát Ma Ha Tát. Đại Trí là trí tuệ (pràjnà) thấu triệt tường tận chân lý tuyệt đối. Trí này có khả năng soi rọi, chuyển hóa vô minh, phiền não, dục ái, nhiễm ô thành thanh tịnh, đưa nhận thức vượt lên mọi phạm trù đối đãi, đạt giải thoát toàn diện.

*
 Vị Bồ Tát có trí tuệ siêu việt

11. Bồ Tát Phổ Hiền


 Phổ Hiền Bồ tát (dịch âm là Tam mạn đà bạt đà la, hoặc Tam mạn đà bạt đà, zh. pǔxián 普賢, sa. samantabhadra, ja. fugen, bo. kun tu bzang po ཀུན་ཏུ་བཟང་པོ་). Phổ là biến khắp, Hiền là Đẳng giác Bồ tát, Phổ Hiền là vị Bồ tát Đẳng giác có năng lực hiện thân khắp mười phương pháp giới, tùy mong cầu của chúng sanh mà hiện thân hóa độ. Ngài là một trong những vị Bồ Tát quan trọng trong Phật giáo Đại thừa. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì Chánh pháp của Đức Phật Thích Ca.

Phổ Hiền được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù-sư-lợi (sa. mañjuśrī). Bồ Tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong hệ thống Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Đại Nhật (sa. vairocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ Tát.

*
 Vị Bồ Tát phát mười hạnh nguyện lớn để độ chúng sanh

Mỗi vị Phật, Bồ Tát đều có một hình tướng, hạnh nguyện riêng, nhưng tất cả các Ngài đều có lòng thương chúng sanh vô hạn và làm lợi ích cho hết thảy.

Chúng ta có thể thỉnh tranh, ảnh, hoặc tượng của các vị Đức Phật, Bồ tát về để thờ cúng tại tư gia, nơi làm việc, để thêm lòng tôn kính và giúp tu tập tốt hơn.

(cisnet.edu.vn) Những vị Phật và Bồ tát thường gặp sau đây được cho là gần gũi với cuộc sống của chúng ta nhất, được nhiều người biết tới qua tình yêu thương vô hạn của họ với chúng sinh.
Mục lục (Ẩn/Hiện)
1. Phật là ai?2. Phật Đà là gì? 3. Bồ tát là gì?4. Mười phương chư phật là gì?5. Có bao nhiêu vị Phật, Bồ tát?6. Những vị Phật và Bồ tát thường gặp
Phật là một danh từ dùng để mô tả trạng thái của tâm con người sau khi tự mình trải qua hoàn cảnh, đã tự đúc kết được những kinh nghiệm trân quý, bài học sâu sắc, đã tìm cách sửa đổi, vượt qua được cái tâm vướng mắc, để đạt được tâm an lạc, hạnh phúc, viên mãn.

Xem thêm: Bí mật phòng the chốn thâm cung trở thành trào lưu trang điểm


Đặc điểm nổi bật nhất của Phật đó là sự giác ngộ. Điều nàykhông phải là chỉ sự hiểu biết về một lĩnh vực nào đó, nếu chỉ xuất sắc hay thông thái cũng chỉ dừng lại ở thế trí biện thông. Trong khi đó giác ngộ là sự thấu hiểu rõ ràng, thông suốt về muôn sự, muôn vật có trên thế giới này.
Theo đó, Phật có nghĩa là giác ngộ, là tình trạng giải thoát trong tâm để từ đó mãi sống đời viên mãn, bình an, hạnh phúc. Và bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể đạt tới điều đó không liên quan đến tướng mạo, nghề nghiệp, địa vị, hèn sang... Trong kinh văn Tổ Bồ Đề Đạt Ma đã nhấn mạnh: “Nếu thấy rõ pháp ấy thì phàm phu không biết một chữ cũng có thể là Phật”. Thế nên khi
Thái tử Tất Đạt Đa giác ngộ thì mọi người đã gọi Ngài là Phật.
Một trong những hiểu lầm về Đạo Phật khá phổ biến đó là người ta tin rằng, Phật là người có mọi khả năng kỳ diệu, có phép thuật để cứu rỗi chúng sinh. Chúng ta cần hiểu rằng Phật xuất phát là từ chữ Phạn बुद्धा, đọc là Buddhā, dịch nghĩa là “Giác ngộ”. Ban đầu, người Việt tiếp thu Phật giáo trực tiếp từ Ấn Độ, nghe họ phát âm là “Buddha”, phiên âm trực tiếp ra là “Bụt” (đọc Nôm chữ 孛 ). Thế nên trong truyện cổ tích chúng ta hay nghe tới "ông Bụt" như là người cứu giúp ta khỏi khổ đau. Nhưng về sau khi Phật giáo du nhập từ Trung Quốc sang, trong tiếng Hán, từ Buddha được phiên âm là Phật đà rồi sau đó rút gọn thành Phật. Ảnh hưởng từ Phật giáo Trung Quốc mà chúng ta biết đến từ Phật và thay thế dần từ Bụt.
Đức Phật hay còn gọi là Phật Đà, ngắn gọn hơn là Phật vốn là Thái tử Tất Đạt Đa, sinh tại thế giới này cách đây 2589 năm ở thành Ca Tỳ La Vệ, Ấn Độ. Ngài là người đầu tiên đạt được trạng thái giác ngộ giải thoát của tâm. Khi Ngài giác ngộ, thành đạo có danh hiệu là Thích Ca Mâu Ni - người trí giả thầm lặng của dòng họ Thích Ca. Sau đó, Ngài đã truyền dạy lại phương pháp đó cho mọi người với mong muốn ai cũng có thể thành Phật như mình.
Vì vậy, khi nói Phật hay Đức Phật, chúng ta thường ngầm hiểu đó là Đức Thích Ca Mâu Ni, là người sáng lập ra Đạo Phật.
Bồ tát có tên đầy đủ là Bồ đề tát đỏa. Bồ đề có nghĩa là giác, tát đỏa là hữu tình, Bồ tát nghĩa là giác hữu tình và hữu tình là sinh vật có tính tình và tình ái, cũng được gọi là động vật.
Trước khi muốn thành Phật, chúng sinh phải trải qua một quá trình làm Bồ tát và muốn làm Bồ tát thì trước hết phải có tâm nguyện lớn. Tất cả chúng sinh từ khi mới phát tâm cho đến khi thành Phật đều được gọi là Bồ Tát, vì vậy mà có phân biệt Bồ tát phàm phu và Bồ tát hiền thánh. Trong kinh Phật khi nói đến các Bồ tát thì thường là các vị Bồ tát hiền thánh.
Theo đó, Bồ tát là loài hữu tình có giác ngộ, giác ngộ về nỗi khổ của tất cả chúng sinh, Ngài được cho là có phẩm chất tương đương với các vị Phật về trí tuệ, từ bi và quyền năng. Lòng bi mẫn thúc đẩy họ giúp đỡ những người khác, sự thông thái cho họ biết cách làm thế nào để đạt hiểu quả cao nhất và quyền năng tích lũy cho phép họ hành động theo những cách kỳ diệu.
Mười phương chư Phật hay còn gọi là thập phương chư Phật gồm có Đông, Tây, Nam, Bắc, Đông Nam, Đông Bắc, Tây Nam, Tây Bắc, trên trời, dưới đất (hay trung ương).
Tuy nhiên, có quan niệm cho rằng mười phương chỉ mang tính đại diện, hàm ý là Phật ở mọi nơi. Theo đó, mười phương Phật hay thập phương chư Phật tức nơi nào cũng có Phật ngự trị, Phật ở khắp mọi nơi trong càn khôn vũ trụ. Theo lời Phật dạy thì từ thời xa xưa đã có rất nhiều vị Phật ra đời, và trong tương lai cũng sẽ có các vị Phật khác xuất hiện. Ngay lúc này, tại các thế giới khác trong 10 phương, cũng đang có nhiều Phật tồn tại. Như vậy, từ trong quá khứ cho tới hiện tại và tương lai, có vô lượng vô số Phật. Hơn nữa, Phật giáo còn cho rằng, tất cả chúng sinh, tất cả các loài hữu tình, dù hiện nay có tin hay không tin Phật, đều có khả năng thành Phật trong tương lai.
Trong văn hóa Phật giáo, sự tích về các vị Phật cũng được ghi chép lại rất nhiều và đa dạng, không có thông tính chính xác bao nhiêu vị Phật và Bồ tát.
Kinh Đại bổn trong Trường bộ kinh - tương ứng với kinh Đại bản duyên trong Trường a-hàm, đã ghi chép những danh vị Phật đầu tiên gồm có 3 vị Phật của trang nghiêm kiếp, 3 vị Phật của hiền kiếpvà thêmPhật Thích Ca Mâu Ni được xem là 7 vị Phật quá khứ. 3 vịPhật của trang nghiêm kiếp: Phật Tỳ Bà Thi
Phật Thi Khí
Phật Tỳ Xá Phù
Tuy nhiên, Đức Thích Ca thuyết giảng rằng từ lúc hình thành vũ trụ đã có hàng nghìn vị Phật chuyên thuyết giảng về Phật giáo. Thế nên có thể nói không thể đếm xuể có bao nhiêu vị Phật và Bồ tát.

5.2 Vị Phật nào đứng đầu?

Câu trả lời là không có vị Phật nào đứng đầu vì không có vị nào hơn vị nào. Vì suy cho cùng đã thành Phật nghĩa là đã giác ngộ.
Các vị Phật sở hữu những khả năng phi thường mà người bình thường không thể có được. Ngài biết tường tận những gì chúng sinh đang nghĩ và những việc mà chúng sinh làm, kể cả tốt và xấu. Các vị Phật đều đáng được tôn kính như nhau cho dù vị Phật mà hầu hết mọi người biết đến nhiều nhất hiện nay đó là ngài Thích Ca Mâu Ni - giáo chủ của đạo Phật.
Thích Ca Mâu Ni nghĩa là người hay phát khởi lòng nhân từ mà tâm hồn luôn luôn an tĩnh, vắng lặng. Đức Phật Thích Ca Mâu Ni là người sáng lập ra đạo Phật. Ngài được xác nhận là có thật trong lịch sử. Ngài sinh vào khoảng năm 624 TCN, chính là Thái Tử Tất Đạt Đa Cồ Đàm của vương quốc Thích Ca, thuộc Ấn Độ ngày nay. Hình tướng thường thấy của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đó là Ngài ngự trên đài sen với tư thế ngồi kiết già, hoặc ngồi kiết già với tay phải cầm hoa sen đưa lên.
A Di Đà còn gọi là Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang và Vô Lượng Công Đức. Nghĩa là tuổi thọ, hào quang và công đức của Ngài không thể lường được. Hình tướng thường thấy của Phật A Di Đà đó là Ngài đứng trên tòa sen, tay trái cầm đài sen, tay phải duỗi xuống để tiếp dẫn chúng sanh. Các chùa hay thờ tượng Ngài đứng giữa, bên phải là Bồ tát Quán Thế Âm, bên trái Ngài là Bồ tát Đại Thế Chí. Đây gọi là Tây Phương Tam Thánh. Phân biệt Phật Thích Ca và Phật A Di Đà để thấy rằng một vị có thật trong lịch sử và một vị xuất hiện trong kinh Phật giáo.
Di Lặc hay còn được gọi là Di Lạc, Phật cười, Phật bụng bự, Phật Mập… những cái tên đều gợi lên ý nghĩa vui vẻ và hoan hỷ, Ngài là vị Phật ở đời tương lai.Ngài cũng là vị Bồ tát cuối cùng xuất hiện trên Trái Đất đã đạt được giác ngộ hoàn toàn, chứng ngộ thành Phật, giảng dạy Phật pháp và giáo hóa chúng sinh. Hình tướng thường thấy của Phật Di Lặc đó là dáng người mập mạp, bụng to, đầu hói, miệng cười rất tươi. Bụng to là chỉ cho sự bao dung rộng lượng, miệng cười là chỉ cho lòng hỷ xả, không vướng mắc. Có nơi thờ tượng Phật Di Lặc có thêm sáu chú tiểu bám ở quanh mình, biểu trưng sáu căn của một con người.
Bồ tát Quán Thế Âmtiếng Phạn gọi là Avalokitévara, nghĩa là vị Bồ tát quán sát âm thanh đau khổ của thế gian kêu cầu mà cứu độ một cách tự tại. Quán là quán sát, lắng nghe; Thế là thế gian; Âm là âm thanh. Bồ tát Quán (Quan) Thế Âm là vị Bồ tát quán sát, lắng nghe tiếng kêu than của chúng sanh trong thế gian để kịp thời cứu giúp họ thoát khổ. Nếu chúng sinh đang thọ khổ, nghe danh hiệu của Bồ tát Quán Thế Âm mà thành kính xưng niệm, tức thì những chúng sinh đó thoát khỏi sự khổ. Có hằng hà sa số vị Bồ tát nhưng Quán Thế Âm là vị Bồ tát được biết đến nhiều nhất, vì hạnh nguyện và nhân duyên của Ngài đối với cõi Ta bà rộng sâu, cùng khắp. Hình tướng thường thấyBồ tát Quán Thế Âm là tay phải Ngài cầm nhành dương liễu, tay trái cầm bình nước Cam Lồ để tưới mát chúng sanh, trên đỉnh đầu có hình Đức Phật A Di Đà. Có rất nhiều hình tượng Quán Thế Âm như: Quan Âm Lộ Thiên, Quan Âm Thị Kính, Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn,…
Đại Thế Chí Bồ tát còn được gọi là Đắc Đại Thế Bồ tát, Đại Tinh Tấn Bồ tát, Vô Biên Quang Bồ tát,… hay vắn tắt là Thế Chí. Tên này là do Ngài dùng ánh sáng trí tuệ chiếu khắp muôn nơi để chúng sinh mười phương thoát khỏi đau khổ, đạt thành tựu Bồ Đề, có đạo hạnh chuyên tu. Tên gọi Đắc Đại Thế Bồ tát nghiêng về diễn tả đại hùng đại lực đại từ bi của Ngài, dùng hạnh nguyện của mình để điều phục và tiếp độ chúng sinh trong thế giới Ta bà. Ngài là một trong Tây Phương Tam Thánh, cùng Quan Thế Âm Bồ tát theo hầu Phật A Di Đà, một trong các vị Thượng thủ trong chúng hội Bồ tát. Hình tướng thường thấy là Ngài cầm cành hoa sen màu xanh, Quan Âm cầm nhành dương liễu và bình tịnh thủy. Trên chóp mũ của Bồ tát có hình ngôi chùa, đại diện cho trí tuệ. Thân tỏa ra màu vàng tím lấp lánh, soi chiếu thập phương vì thế mà Bồ tát Đại Thế Chí cũng được gọi là Bồ tát Vô Lượng Quang. Cũng có hình tượng Bồ tát Đại Thế Chí hiện thân là tướng người cư sỹ, nơi cổ có đeo chuỗi ngọc anh lạc và trên tay cầm một hoa sen màu xanh, tượng trưng cho sự thanh tịnh. Trong Tây Phương Tam Thánh, Thế Chí Bồ tát đứng bên trái Đức Phật A Di Đà, bên phải là Quan Thế Âm Bồ tát, hiện thân là hai cư sĩ có cách ăn mặc tương tự nhau.
Địa Tạng vương Bồ tátcùng với Quan Thế Âm Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát và Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Địa Tạng Vương Bồ tát được xưng tụng là tứ đại Bồ tát. Ngài chính là đất đai rộng lớn, sâu xa, mọi giới mọi loại đều hưởng, không phân biệt, không có định mức. Ngài dùng pháp lực và lòng từ bi của mình chuyên cứu độ những người sa vào địa ngục. Hình tướng thường thấycủa Địa Tạng vương Bồ tát đó là Ngài mặc áo cà sa, đội mũ tỳ lô, tay phải cầm tích trượng có mười hai khoen, tay trái nắm viên minh châu. Ngài thường được thờ trong Chánh Điện bên phải Đức Phật Thích Ca, hoặc nơi nhà thờ các vong linh.
Đức Phật Dược Sư hay còn gọi là Dược Sư Như Lailà một vị dược sư, một thầy thuốc chuyên đi cứu chữa, giúp chúng sanh vượt qua bệnh tật. Khi tu thành đắc đạo, Ngài phát nguyện mong muốn giải trừ tất cả bệnh khổ cho chúng sinh, cả về thân bệnh và tâm bệnh. Ngoài tên là Dược Sư, Ngài còn có tên khác là Dược Sư Như Lai, Vương Thiện Đạo hay tên đầy đủ là Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Như Lai.
Hình tướng thường thấy củaĐức Phật Dược Sư khá giống như Đức Phật. Nếu không dựa vào pháp bảo hay tư thế thì rất khó để nhận biết dược Tôn hiệu. Tượng Phật Dược Sư ở Tịnh Độ tông được mô tả sở hữu làn da màu xanh. Ngài ở tư thế ngồi, mặc ba áo choàng của một tu sĩ Phật giáo hở ngực, trước ngực thường có chữ Vạn. Trên tay Đức Phật cầm một lọ mật hoa màu lưu ly và tay phải đặt trên đầu gối phải, cầm thân cây Aruna hoặc Myrobalan giữa ngón tay cái ngón trỏ.
Phật Mẫu Chuẩn Đề hay còn được gọi Chuẩn Đề Bồ tát là vị thần hóa độ chúng sinh. Ban cho con người được khỏe mạnh, bình an, hóa trừ bệnh tật. Ngài cũng chính là hóa thân của Đức Quan Thế Âm cứu khổ cứu nạn. Hình tướng thường thấy đó là thân của Ngàicó màu vàng trắng hay màu vàng lợt, ngồi kiết già trên đài sen, có hào quang tỏa sáng xung quanh, mình mặc thiên y trắng, trên đầu trang điểm ngọc anh lạc, trên ngực khắc chữ “Vạn”. Hai tay đeo hai chiếc cườm và gắn ngọc bửu trên tai trái. Trên mặt Phật Mẫu Chuẩn Đề có ba con mắt tương ứng là “Phật Nhãn”, “Pháp Nhãn” và “Tuệ Nhãn”. Mỗi con mắt đều tỏa ra ánh nhìn sắc sảo, chiếu rọi khắp nhân gian để cứu độ chúng sinh khỏi kiếp khổ nạn. Ngài có 18 tay đều đeo vòng xuyến khảm Xà Cừ và mỗi tay đều cầm các loại khí cụ biểu thị cho các Tam Muội Gia, gồm có 3 mắt.
Thiên thủ thiên nhãn là ngàn mắt ngàn tay. Con số ngàn chỉ mang tính tượng trưng, ám chỉ một số lượng nhiều vô số kể, không đếm được. Ngài là vị Bồ tát có vô số tay, vô số mắt có thể cứu khổ, để lắng nghe tiếng kêu cứu của chúng sinh trần gian. Hình tướng thường thấyQuan Âm Thiên thủ Thiên Nhãn trên thực tế tại các chùa có thể có hơn 1000 tay, cũng có thể có vài chục tay hay vài trăm tay. Tượng có thể có hình con mắt trong lòng bàn tay.
Nghìn mắt để thấy khắp thế gian và nghìn tay để cứu vớt chúng sinh. Bàn tay tượng trưng cho hành động. Muốn làm việc gì cũng phải dùng đến bàn tay.
Bồ tát Văn Thù Sư Lợi hay còn gọi là Văn Thù Bồ tát là vị Bồ tát tiêu biểu cho trí tuệ, kinh nghiệm giác ngộ và ánh sáng của học vấn, đạt được thành quả tu hành bằng phương tiện tri thức. Nhờ thế mà có thể chuyển hóa mọi phiền não tiến tới thân tâm an lạc, giúp chúng sinh vượt qua cảnh giới trần tục, đạt tới sự giải thoát toàn diện cả về thân lẫn về tâm.
Hình tướng thường thấycủa Ngài đó là dáng dấp trẻ trung ngồi kiết già trên một chiếc bồ đoàn bằng hoa sen. Trên tay phải của Ngài đang cầm một lưỡi gươm đang bốc lửa - lưỡi gươm chặt đứt tất cả những xiềng xích của vô minh tạo ra. Trong khi đó, tay trái của Bồ tát đang cầm giữ cuốn kinh Bát Nhã trong tư thế như đang ôm ấp vào giữa trái tim mình suối nguồn và biểu trưng của tỉnh thức, giác ngộ.
Phổ Hiền Bồ tátđược xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho “Bình đẳng tính trí” tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Theo kinh Pháp Hoa, Ngài là vị Bồ tát ở quốc độ của Phật Bảo Oai Đức Thượng Vương Như Lai, phía Đông cõi Ta Bà, nghe thế giới này thuyết kinh Pháp Hoa liền lãnh đạo năm trăm vị Đại Bồ tát đến nghe pháp và phát tâm hộ trì theo pháp của Đức Phật.
Hình tướng thường thấy của Ngài đó là
Bồ tát cưỡi voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Bồ tát.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

x

Welcome Back!

Login to your account below

Retrieve your password

Please enter your username or email address to reset your password.